NGŨ QUỶ

By Làng Đại Phong

 

 

NGŨ QUỶ

Phi lộ: Người ta nói tôi hoài cổ. Còn tôi nghĩ con người mà không còn một chút kỷ niệm để neo đậu tâm hồn về quê thì coi như bỏ.

 

Ngày tôi còn bé phương tiện giao thông đi lại thông tin báo chí ngèo nàn lắm nếu không muốn nói là chẳng có gì. Tuổi thơ chỉ quanh quẩn trong làng đi móc đam bắt ốc bẫy chim trèo cây lấy trứng chim… Có lẽ cả năm trẻ con mới thấy một cái ô tô chạy từ Đồng Hới lên bụi mù ngoài đường 30 (đường từ Chợ Cưỡi sang Đại Phong). Cái xe “Batuya”- theo cách gọi của dân Đại Phong lúc bấy giờ với loại xe con Peugio hình dáng như con bọ hung chầm chậm bò trên đường đá lổn nhổn. Lũ trẻ con chúng tôi rần rật chạy theo sau ở trần mũi thò lò độc mỗi cái quần đùi không chun vận vào sợi chuối khô buộc ngang lưng. Có đứa chạy hăng quá đứt dây chuối tụt luôn quần làm cờ khua trên đầu reo hò cho đến khi chiếc xe mất hút sau rặng tre. Bụi bám đầy mặt mồ hôi chảy xuống thành vệt. Lại a lô xô chaỵ xuống hói Đợi ngụp lặn. Ở truồng mà còn thi nhau trồng cây chuối vô tư (bọn con gái cũng vậy còn thi ai trồng lâu).

Thế rồi ba tôi về Đồng Hới làm việc. Tôi với mẹ đi theo. Ngày đó Đồng Hới đẹp lắm. Chiều chiều tôi thơ thẩn dưới rặng dừa ven sông Nhật Lệ nhớ lũ bạn ở nhà muốn khóc. Tôi không hiểu vì sao lại phải xa chúng nó. Bạn bè tôi có 5 đứa thân nhau được phong là “Ngũ quỷ”. Đứa nào cũng khỏe cũng vô tư và đặc biệt là rất thương yêu nhau. Thằng An là khỏe nhất hội. Vật nhau lúc nào nó cũng thắng. Miếng quắp cổ miếng gồng của nó thì vô địch. Nó đi chăn trâu một lần bị con trâu lắc ruồi vô tình thủng bụng mà nó chẳng khóc. Đua trâu trên đồng bao giờ nó cũng nhất. Có lần trâu mệt quá chui qua bụi tre hắn bị mắc lại rách mồm rách mặt. Kệ. Thằng Tấn thì tài sát cá. Nơm tát làm đìa đắp trộ cá nhảy… cái gì nó cũng giỏi. Mùa đông nó biết lúc nào cá nổi thông báo cho cả bọn đi bắt bộ. Thằng Diên thì được chú nó truyền cho cái nghề bẫy chim. Nó có con cu gáy hót rất hay kéo đến bốn nhịp cúc cù cu cù. Cu gáy có thể dụ con khác vào lồng nó. Mấy con chim sẻ mồi bị buộc chân xuống bãi cỏ cứ nhảy lên nhảy xuống sau tấm lưới. Lũ chim trời tưởng có nhiều thức ăn sà xuống lưới sập vậy là xong. Thằng Ơn có tài leo cây bắt trứng chim ăn trộm quả. Chính hắn nghĩ ra cái trò bẻ trộm mít đào hố chôn xuống rồi ĩa lên trên một bãi. Ai đi qua cũng tránh xa. Chừng mít chín là hắn hắt cái bãi thải của hắn đi bới đất lôi mít lên cho vào cái áo. Hai đứa khiêng hai đầu chạy sang đồng Bể cả bọn chén. Hắn còn thông minh đến mức tìm chỗ ngồi dưới gió để mùi mít không bay lên đường làng.

Trong nhóm tôi là thằng gan lì cóc tía chẳng sợ gì. Đầu làng có cái Miếu trong thờ phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen và đức Quan Công râu dài đặt trong tủ kính. Trước sân Miếu có hàng cây Bún có lẽ đến trăm tuổi đứng ven cái ao sâu. Dưới chân cây Bún mọc um tùm loại cây Giêng Giếng có quả như quả phượng hạt bùi béo. Hôm đó trời nắng cả bon lượn một vòng dưới đồng kiểm tra hố cá nhảy. Không có cá kéo về ngồi bờ ao. Thằng Ơn trèo cây hái quả Giêng Giếng cho cả bon ăn. Đang ăn tôi bị đau quặn ruột. Tụi nó dọa: mày ăn quả của thánh mà chưa xin thánh bắt tội rồi. Thôi vào Miếu lạy thánh đi. Tôi cũng hơi nghi nghi nên đứng lên lảo đảo vào Miếu. Vào đến nơi thấy ông Quan Công râu dài mặt đỏ chợt tôi thông minh ra. Sẵn máu liều tôi nghĩ ra một trò. Tôi khệ nệ khiêng ông Quan Công bằng gỗ ra khỏi tủ kính. Lấy râu ông ấy dán vào cho mình rồi ngồi thế vào chỗ ông. Đợi lúc lâu không thấy tôi ra chúng nó cũng nghi ngại. Cả bốn thằng nắm tay nhau mặt căng thẳng vào Miếu. Nhìn quanh chẳng thấy tôi đâu tụi nó chắc sắp són ra quần rồi. Khi đó tôi lắc lư lắc lư. Cả bốn thằng mặt ngây như ngỗng ĩa mắt trợn lên mồm kéo chữ o. Hình như chúng muốn chạy mà không chạy được. Chết đứng. Mấy giây sau cả bon ù té quyền băng qua cả ruộng lúa ngã lên ngã xuống. Tối đó tôi bị phạt một chầu khoai sống. Thứ khoai mầm mọc lên sau mưa tôi mót được ở ruộng dấu ở đám lá tre dưới bụi tre gần nhà.

Nói gan cóc tía là so với nhóm “Ngũ Quỷ” thôi chứ tôi cũng đã bị một phen hết hồn. Số là ở quê tối tối trẻ con đi chơi ở sân kho. Đứa thì chơi trốn tìm đứa thì bịt mắt bắt dê. Đứa thì chơi trò từng cặp đứa này cưỡi lên lưng đứa kia đánh nhau. Ai ngã ngựa thì phải chui háng. Trai gái gì chui tất. Đứa thì lang thang dọc đường làng ven hói Đợi. Những đêm trăng lờ mờ nửa đực nửa cái rất sợ ma. Các cụ dạy hễ đi đâu ban đêm thì đừng nhìn lại phía sau. Tay phải nắm chặt lại. Cũng làm như vậy nhưng nhiều khi cứ tưởng như có ai đi sau mình xương sống cứ lạnh toát tóc gáy dựng lên. Bờ hói Đợi lúc đó rất nhiều tre và cây Dưới. Lá Dưới ram ráp dùng tuốt lươn rất sạch. Loại cây này thường cao quá đầu người lớn là xòe tán dày kịt. Hai ba người ngồi trên đó được. Tối đó nhóm chúng tôi đi xem phim ở sân đình về. Tôi bao giờ cũng đi đầu. Về đến bến nhà ông Trợ trong trăng suông tôi nhìn thấy hình như có một bóng người đứng trên cây Dưới trong bộ đồ một nửa trắng một nửa đen. Có một  cây tre bổ qua đường sà xuống ngon Dưới. Lúc đi nào có. Tôi dang tay ngáng cả bon lại. Cùng lúc đó chúng đều nhìn thấy. Bóng ma nghiêng bên này rồi nghiêng bên kia. Tóc tai xõa xượi lúc hắn trắng toát rồi đen một nửa rồi đen cả. Cha mẹ ơi bốn thằng kia cấu nghéo và áo quần tôi. Còn tôi chẳng hơn gì đứng như trời trồng. Một luồng lạnh chạy từ gáy xuống hạ bộ. Nghe chừng ướt quần rồi. Muốn chạy mà không chạy được. Bổng cái bóng ma kia đánh đu vào cây tre bay là xuống chỗ bọn tôi dãi áo của hắn phấp phới. Lúc ấy hình như có điện chập cả bọn hét lên chạy bán sống bán chết. Những lúc này mới khổ với cái cái quần vận bằng dây chuối khô. Nó đứt phựt quần tụt nó như thòng lọng thắt chân. Tôi bổ nhào vập mặt xuống đường rụng cả cái răng sữa mới lung lay. Thế rồi ào một cái bóng ma biến mất. Cả bọn lóp ngóp thất thểu chạy gằn về nhà.

Sáng hôm sau tôi quay lại chỗ đó tìm cái răng. Các cụ bảo răng sữa mà rụng thì ném nó lên mái nhà mới mọc lại được. Khi ấy gặp ông Trợ ông nói lại hôm qua lão Ninh Trộp doạ ma chúng mày. Tôi ớ ra. Lão ấy tên Ninh nhưng trẻ con trong xóm gọi lão là Ninh Trộp vì lão như con cóc trộp chuyên dọa ma trẻ con.

Vùng quê thuần nông xứ mình chẳng bao giờ hết việc. Đứa bé mới biết đi thập thững đã cầm chổi quét nhà. Hết thời ở lỗ mặc quần đùi thì đã biết đi mót lúa nơm tát đặt câu cặm kiếm cá. Lúc vỡ giọng nói ồ ồ là đi lên rừng bứt gianh lấy củi chặt rào về làm giàn bầu giàn mướp… Như một bản năng chẳng ai dạy nhưng chúng tôi lây cho nhau. Trước khi vượt khỏi lũy tre để đi xa khối đứa đã làm được nhiều việc người lớn. Nhưng cái để nhớ lâu nhất vẫn là những trò  thời ở lỗ quần đùi. Mỗi đứa trong nhóm ngũ quỷ của tôi đã có những kỷ niệm không bao giờ phai.

Nhớ và khoái nhất là những trò thằng Tâm bày đặt. Những trò bắt cá của hắn thì thần sầu. Bất kể việc gì từ đi câu cá ngát dưới hói Đợi đến đi câu cá phát lát ở cầu Xiên đi nơm cá diếc ở Đồng Ngoài đi cất rớ ở hói Ba Đa tát cá trộ thả lưới bén… cái gì hắn cũng giỏi. Chỉ kể vài ba chuyện để nhớ. Trước hết là trò câu cặm. Nhà hắn có hàng trăm cây câu cặm được làm bằng lưỡi câu thép một đoạn cước khoảng nửa mét một đoạn cần uốn cong cong bằng tre khoảng bảy tám mươi phân. Chập tối là hắn dẫn đầu cả bọn ra đồng. Một vai khoác cần câu. Một vai đeo giỏ mồi được làm bằng ruột ốc nhồi. Cứ mỗi cây câu mắc một con ốc. Hắn lội bì bõm dưới ruộng lấy chân trang bùn rồi cắm vào đó một cây. Bọn tôi chỉ chạy lon ton trên bờ theo hắn cho đến khi hết cần câu. Mất khoảng hai giờ cả bọn kéo về đường làng ngồi tào lao. Đứa nào nghỉ ra điều gì độc đáo thì a lô xô. Còn không thì chơi chán rồi về ngủ. Gà gáy sáng hắn đã đến từng nhà cào cào vào liếp cửa sổ đánh thức. Tôi rón rén ra ngoài cả lũ kéo nhau đi thu cần câu. Chỉ toàn cá đô (cá quả) thỉnh thoảng có một con rắn nước. Cá đô mồm rộng đớp cả con ốc nên mắc câu. Có con to hơn một ký nó quấn nát vài ba bụi lúa quanh đó. Hôm nào cũng vậy hắn cho bọn tôi mỗi đứa một con. Ít thì thôi. Tôi khoái nhất là những đêm đi canh trộ cá nhảy. Vùng đồng trũng Đại Phong nhiều cá lắm. Mùa hè khi bắt đầu làm vụ hè thu lúa cấy được khoảng hai ba tuần là nắng tháng bảy như đổ lửa. Nước nóng rẫy đến con đam cũng chết. Lũ cá diếc là đành hy sinh chết thối khắp đồng. Riêng cá đô thì chui xuống bùn trốn nóng. Đến đêm là tìm đường trườn ra bờ ruộng. Phốc một cái là vượt bờ ra được mương sâu. Thằng Tâm biết trò này chắc ông nội hay cụ kị nó truyền lại. Hắn kéo cả bọn xuống ruộng tìm một chỗ mà theo kinh nghiệm của hắn là cá sẽ ra đó nhảy. Be ở mặt trong một cái bờ là là mặt nước vuốt bùn cho trơn. Sau cái bờ đó là một hố sâu không có nước. Ngoài cùng là bờ cao ngăn với mương. Hắn khéo léo chọc một cái lỗ thủng bờ gần đó cho nước ruộng cháy ra kêu róc rách. Vậy thôi việc còn lại là nằm đợi đến sáng để xuống hố thu cá về. Việc này phải làm ban đêm vì lúc nửa đêm về sáng nước mát cá mới lên khỏi bùn tìm đường đi. Cả năm thằng cứ bờ mương cỏ mượt mà “thênh thang nằm bãi cỏ hơn mằm chiếu hoa”. Đêm hè gió thổi hơi nước từ ruộng lên đầu hôm còn nóng nhưng càng về sáng càng mát rượi. Gác cẳng lên nhau ngửa mặt lên bầu trời vời vợi chi chít sao. Tha hồ mà tưởng tượng hầu như thằng nào cũng nhận ra ông thần nông. Tôi là thằng nhớ chuyện Tam Quốc nhiều nên chúng cứ bắt tôi kể. Đôi khi cũng quên phải phịa một tí được cái chúng nó không biết bỏ qua. Gió càng về đêm thổi một to. Ếch nhái ểnh ương hoà tấu inh ỏi. Đám dế cứ ri rich ri rich đồng ca. Dần dần rồi chúng nó cũng chìm vào giấc ngủ. Thằng An bao giờ cũng ngủ sớm nhất miệng hắn lúc nào cũng nhai chóp chép. Không hiểu sao những đêm như thế tôi hầu như không ngủ. Mà đã không ngủ là cứ hay nghĩ ngợi. Mà cũng lạ ít khi tôi nghĩ ngợi về gia đình mình mà thường nghĩ về hoàn cảnh của bạn bè. Tuổi thơ hình như chỉ hy sinh cho bạn bè. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng bủm phọt ấy là một chú đã vượt vũ môn vào hầm. Sáng ra cả bọn bò dậy việc đầu tiên là nhòm xuống hố xem có cá không. Thật sung sướng là hôm nào cũng nhiều cá. Chỉ rặt một loại cá quả. Có lần kỷ lục là mỗi hố được hơn một yến. Cá nhiều ăn không hết thì làm mắm thính mổ ra phơi khô để dành đến mùa đông.

Còn thằng Ơn thoáng nghĩ đến nó là mường tượng nó đang vắt vẻo trên ngọn tre. Quê mình xưa nhiều tre lắm. Tre bao bọc quanh làng thành lũy. Tre có nhiều loài nhưng ở quê mình nhiều nhất là tre Gai và tre La Ngà. Tre gai dùng nhiều việc từ đan lát vật dụng đến chẻ lạt bó lúa dựng nhà… Tre La Ngà cây to vàng óng cành gai chi chít chủ yếu để chắn sóng gió. Phía sau đồng suốt từ Thượng Phong về đến Mỹ Phước là rặng tre xanh mướt kẽo kẹt. Nó là bức tường thành chắn sóng mỗi khi lụt chắn gió đông bắc mỗi mùa đông cho dân làng. Trên những ngọn tre đó là một thế giới khác thế giới của chim chóc. Chập tối là cò vạc đậu trắng bờ tre. Mùa hè đến không biết giống chim Rôộc Rôộc ở đâu về đan tổ đẻ con. Nó mới là những kiến trúc sư. Tổ Rôộc Rôộc được đan bằng lá mía. Nó xé từng sợi một dùng cái mỏ khéo léo khâu thành cái tổ như cái giầy cao cổ treo ngược. Trước cửa bao giờ cũng có cái võng để con nó đứng tập bay. Lũ trẻ chúng tôi thường bẻ cái tổ đó xỏ làm giày đá bóng. Tuy nhiên để lấy được nó là cả một sự can đảm. Tổ chim chỉ làm vắt vẻo trên ngọn tre. Vậy mà thằng Ơn bất chấp. Nhoáng cái hắn đã chui vào bụi tre gai tìm đường trèo lên một cây. Hắn đu như con khỉ. Cây tre trì xòa xuống. Hắn mò ra phía ngọn đến đoạn không còn ra được nữa mới thôi. Bẻ tổ chim thả xuống có chúng tôi đón. Hết cây này hắn lại đánh võng du sang ngọn cây khác. Có hôm hắn đi hết cả vạt tre dài bằng cách ấy. Đứng dưới nhiều khi thót tim chúng tôi lo cho nó. Tôi hỏi răng mi không xuống rồi trèo lại cây khác. Hắn cười bảo đồ ngu cộôc tre toàn gai tìm đường lên còn khó tau đi trên nớ cho khỏi gai cào. Lạy trời các cụ bảo “có phúc đẻ con biết lội có tội đẻ con biết trèo” may sao cho đến khi đi bộ đội thằng Ơn chưa bị ngã lần nào. Nhưng cũng có lần hắn bị ăn đòn. Số là có lần ai mách không biết bố hắn đi tìm. Thấy hắn đang vắt vẻo trên ngọn cây sợ hắn giật mình rơi bố hắn giả vờ nói to từ xa để đánh tiếng. Sau đó ông túm tai hắn lôi về. Trưa đó hắn bị một trận đòn dữ dội. Ông ấy bắt nó nằm xuống nền nhà lấy một bó củi đè lên lưng. Bên cạnh là thằng em không có tội cũng nằm đó. Ông lấu cái roi mây đi cày cứ nhè mông thằng Ơn mà quất. Mấy thằng tôi nấp sau vườn cứ mỗi lần nghe “trót” một cái là cảm thấy như mông mình cũng đang cháy.

Ấy thế mà chỉ ba hôm sau hắn còn gây một vụ tày trời. Hôm đó gần trưa đói bụng cả nhóm rủ nhau đi ăn trộm ổi ông Chắt. Ông Chắt ở cuối làng làm nghề bện nơm bán. Ngày nào ông cũng ngồi trước thềm vót nan tre canh chừng nên cây ổi vườn ông còn nguyên. Tụi tôi chia nhau cảnh giới để thằng Ơn trèo. Hắn cho áo vào quần thít chặt để làm túi đựng. Thoắt cái hắn đã trên cây. Ác nghiệp có con gà vào bới rau ông Chắt xùy con chó đuổi. Chạy đi đâu chẳng chạy nó chạy ra cây ổi. Con chó chạy theo vậy là lộ. Nghe chó sủa ông Chắt cầm cây mác vót tre lao ra trấn ngay gốc ổi. Thằng Ơn vẫn trên đó. Ông cầm cây mác dứ dứ lên à con nhà …mày to gan xuống đây ông chặt chân đem sang cho bố mày uống rượu. Thằng Ơn không thể xuống. Ông Chắt không thể trèo. Con chó chạy vòng quanh thấy chủ hăng hái nó sủa to chưa từng thấy. Thế trận giằng co. May sao tôi lại thông minh đột xuất. Rất nhanh tôi chạy vào bếp ông Chắt rút mồi lửa chạy ra đống lá tre khô. Đốt. Cả bọn kêu to: cháy cháy. Nghe vậy ông Chắt bỏ cây ổi chạy vào. Chỉ chờ có thế thằng Ơn phi xuống tuông qua bờ tre chạy bán sống bán chết. Tối ấy thằng Ơn lại bị đòn. Hắn rất khôn lấy cái mo cau đút vào quần đùi sau mông rồi mà vẫn bị phát hiện. Chắc là khi đập xuống tiếng kêu nó khác. Rất may là từ khi phát hiện ra cái mo cau mẹ nó đứng tủm tỉm cười thế là bố nó không đánh nửa. Nói cho công bằng ông Chắt là người tốt mọi khi ông vẫn cho chúng tôi ổi rụng. Ông khuyên đừng ăn trộm. Nhưng hình như đồ ăn trộm lại ăn rất ngon!

Thằng An là một đứa lầm lì nhưng rất tình cảm. Nó có hoàn cảnh đáng thương nhất trong bọn. Ông nội nó là một người đàn ông khỏe nhất làng. Thời trước ông đi buôn ghe cũng giàu có. Nhà có một đàn trâu. Năm 60 vào Hợp tác xã ông hiến hết cho hợp tác. Gia đình chỉ xin cái quyền được chăn trâu của mình để lấy công điểm. Thăng An cứ lẽo đẽo theo đít trâu là vì vậy. Đang khá giả bổng dưng tai vạ ập xuống. Mẹ nó sinh đứa út bị hậu sản chết. Bố nó đang là một lực điền vì thương vợ mà hóa ngẫn ngơ nói nói cười cười ai bảo gì làm nấy. Vậy là một đàn con không ai nuôi. Thằng An trở thành lao động chính từ tấm bé. Hàng ngày đi chăn trâu hắn mang theo đôi quang gánh. Trâu ị ra đến đâu là hắn lấy xẻng xúc vào rổ gánh về để ủ vào cho bầu bí. Nhìn nó cò cổ kéo lê gánh phân trâu lặc lè mà thương. Nhiều hôm rét mướt nó lại chẳng có cái áo nào nên hồn rách te tua lại còn đứt cúc. Nhìn hắn ngồi co ro nấp sau bụi cây dưới mưa phùn để trông trâu - sợ trâu ăn lúa bị phạt bên cạnh là gánh phân mà đứt ruột. Thỉnh thoảng tụi tôi đi gánh phân giúp hắn. Hai thằng khiêng một đầu đã thấy nặng thế mà hắn ngày nào cũng vài gánh đều như kiến thợ. Được cái hắn vô tư nên chẳng thấy hắn khoc bao giờ. Đặc biệt hắn rất tự hào về giàn bầu bí của mình. Hình như hai thứ cây này rất hạp phân trâu nên xanh tốt một cách kỳ lạ. Quả chĩu chịt to đại chang. Có quả bí nặng đến gần tạ. Sợ nó sập giàn một hôm cả bọn chống thêm ba cây tre buộc chéo. Chắc buộc dây không chặt cây chống đổ sập giàn bí vỡ. Thằng An thuỗn mặt ra. Hắn ngồi thừ mất một lúc rồi lẳng lặng đứng dậy đi lấy cái rổ vục tay vào moi hết ruột bí đem xuống hói xát sạnh lấy hạt bắc nồi lên rang. Chín rồi hắn đổ ra cái rót bê lên cho chúng tôi ăn. Hạt bí thơm lừng quên cả chuyện buồn vừa xong. Hắn lũng bũng ăn xong mỗi đứa vác một miếng về mà nấu chè.

Đối diện làng tôi bên kia hói Đợi là làng Tuy Lộc. Bên ấy cũng có một nhóm sàn sàn tụi tôi do thằng Lực cầm đầu lúc nào cũng gằm ghè. Chúng cố giữ lãnh địa cánh đồng Bể. Bên đó là đất trồng vừng lạc chim về nhiều bẫy chim tha hồ. Lại có bờ cây hoang dại nhiều quả lôông phôổng thơm lừng ngọt lịm. Hoa bù tru thơm ngây ngất cả trưa hè. Thỉnh thoảng chúng đi tuần du sẵn sàng đánh nhau. Tụi tôi chỉ cậy vào thằng An nó khỏe và liều hơn thủ lĩnh bọn Tuy Lộc. Muốn sang đồng Bể là phải có nó. Đánh nhau vật chúng đều thua rồi. Chúng chỉ dở trò ném đất chơi kiểu cắn từ xa rồi chạy. Có hôm thằng An tức lắm một tay hắn cầm cục đất to một tay hắn cầm đoạn gậy đánh khăng chạy xông thẳng vào lũ thắng Lực. Đất ném như mưa nhưng thằng An cầm cái gậy đỡ. Tài thật không có cục nào trúng hắn mà bị hắn đỡ vỡ hết. Tụi kia nao núng bỏ chạy. Thằng An rượt theo choảng cục đất trong tay vào đầu thằng Lực. Thằng Lực đau quá khóc xin thua. Nhờ vậy mà chúng tôi mới đi lại nghênh ngang bên đồng Bể.

Thằng An sau này đi bộ đội đánh nhau mãi không chết ấy vậy mà lại chết vì ung thư. Chúng tôi buồn vô hạn. Vậy là chỉ còn “Tứ Tử”.

Chuyện thằng Diên cũng nhiều lắm. Ba cái vụ bẫy chim của hắn làm chúng tôi mê mẫn. Cả bọn đi theo cũng chỉ có nhiệm vụ rúc vào bụi nấp kín chờ. Chiều về là nặng tay nãi đàn sẻ cu gáy cuốc… Sướng nhất là những đêm bố nó cho cả bọn đi đơm bồng. Con bồng còn gọi là vịt nước béo múp. Đến mùa đông chẳng biết từ đâu đàn bồng kéo về vùng đồng trũng Lệ Thủy đông như quân nguyên. Một đàn bồng sà xuống là kín khoảng hai sào ruộng. Ngán nhất là kì gieo mạ đông xuân. Chỉ cần một đàn bồng sà xống năm phút là coi như đi toi năm sào mới gieo lúc chiều. Chập choạng tối là đi chăng lưới quanh các thửa ruộng. Lũ bồng trong đêm vẫn ngửi thấy mùi lúa ngâm sà xuống thể nào cũng mắc lưới. Cả bọn chỉ còn đi gỡ. Có đêm được vài trăm con. Nói đơn giản vậy nhưng để lũ bong nhào vô lưới không phải dễ. Mỗi khi từ trên cao trong đêm tối mà chúng vẫn phát hiện thấy mùi lúa ngâm dưới ruộng thì mùi người đối tượng nguy hiểm của nó cũng bị phát hiện. Việc này chỉ có bố thằng Diên biết không biết sau này ông có truyền lại cho thằng Diên không. Lúc đó bọn tôi đi theo ông bảo nằm là nằm ngồi là ngồi cũng rét lắm nhưng nhờ có cái áo tơi.

Ừ mà nói đến áo tơi tôi không biết nó biến mất từ lúc nào? Cái áo tơi tuyệt diệu là cái nhà di động của người nông dân tiện lợi quanh năm. Hà cớ chi mà bỏ mất nó quá tiếc. Cái tơi bây giờ nói ra chắc nhều bạn không hình dung ra nó. Đại loại thế này nó làm bằng thứ lá như lá nón chằm thành hình như cái tấm cót quây quanh người phần trên vai thì thu vào đến cổ đằng trước được mở như áo ta mặc có cái dây buộc trước cổ. To vậy nhưng nó chỉ nặng khoảng một cân. Trời nắng chang chang giửa đồng khoác cái tơi mát rượi. Trời mưa trời rét khoác cái tơi coi như ở trong nhà. Một bạn cấy vài chục người khoác áo tơi nhấp nhô giữa đồng như một đàn bồ nông. Thời @ mà có cái tơi đi làm ruộng vẫn tuyệt chứ sao.

Chuyện của tôi chẳng có gì đặc biệt ngoài cái gan cóc tía trấn an cho cả bọn khi đi chơi đêm tôi là cây kể chuyện. Nhà tôi rất nhiều sách có những bộ quý như Tam Quốc Thủy Hử…đọc đi đọc lại gần như thuộc. Ngày tôi xa quê đi bằng đò dọc từ Lệ Thủy về Đồng Hới. Lũ bạn ra đến tận bến đò chợ Hôm tiễn thằng Diên tặng tôi một con sáo mỏ vàng biết nói. Tôi để lại sau lưng mình làng quê thân thương mà suốt quãng đời còn lại tôi chẳng bao giờ có được những ngày hạnh phúc của tuổi thơ.

 

 

 

More...

NĂNG LỰC YÊU

By Làng Đại Phong

 

Nhiều bạn trẻ hỏi rằng có hay không năng lực yêu. Có phải đó là khả năng tán tỉnh người khác giới. Cao hơn nữa là khả năng chinh phục. Để gải đáp vấn đề này tôi xin nêu một số ý kiến như sau:

Trước hết xin trả lời luôn rằng có năng lực yêu. Song không phải như bạn nghỉ. Yêu là một loại hành vi có chủ định mục đích chứ không đơn thuần chỉ là tán tỉnh chinh phục. Vì tán tỉnh chinh phục nó không rõ mục đích (có khi chỉ vì sự thánh đố). Nói đến yêu đương là nói đến một mặt của nhân cách. Hay nói cách khác là khả năng ứng xử của cá nhân khi đối mặt với tình cảm khác giới. Nếu nhân cách đã được bồi đắp tốt thì năng lực đón nhận tình yêu sẽ tốt. Tất nhiên năng lực này không tự nhiên mà có mà nó phải được bồi đắp từ nhiều con đường. Học thầy học bạn tự quan sát đánh giá qua thực tiễn cuộc sống chia sẻ với người thân… Với ảnh hưởng của nền giáo dục Á Đông thì việc cởi mở với người khác về chuyện yêu đương là yếu ớt. Nên tốt nhất là mỗi người phải có ý thức quan sát đánh giá cái được cái mất của môi trường sống chung quanh mình. Theo tôi có ba vấn đề cần học.

 

Một là bạn cần bồi dưỡng cho mình năng lực đón nhận tình yêu. Ai cũng vậy thôi trước khi “tỏ tình” thường người ta đã có “cảm tình”. Là một người khác giới rất dễ nhận biết điều này. Nếu ai đó có những cử chỉ hành vi “quá ngưỡng” của tình bạn đối với mình thì đó là tình yêu. Cũng cần nói rõ một chút cốt lõi của tình bạn khác giới là sự hiểu nhau thông cảm tin cậy bình đẳng. Còn côt lõi của tình yêu là tình cảm là vướng mắc chẳng yên. Tình bạn thì có xu hướng mở rộng tình yêu thì đóng kín. Tình bạn là xác lập địa vị bình đẳng còn tình yêu là nhất thể hóa. Đã yêu thì nhất định sẽ đi đến tỏ tình. Việc này được ghi nhận như là một dấu ấn của tình yêu. Với đa số chúng ta thì nó rất trọng đại. Vì vậy cần có hiểu biết về tình yêu và hiểu được bản thân mình để đón nhận nó.

 

Hai là bạn cần bồi dưỡng cho mình năng lực cự tuyệt tình yêu. Một người đứng trước sự tỏ tình của người khác thường có một trong hai cử chỉ. Hoặc là đón nhận nó trong niềm hân hoan hạnh phúc hoặc chọn một cách ứng phó phù hợp để từ chối. Nói là phù hợp vì chẳng ai nỡ phủ phàng với tình yêu. Chẳng ai thiếu tế nhị khi làm người khác thất vọng thậm chí bi quan. Để từ chối thì phải có hiểu biết. Hiểu biết về hạnh phúc gia đình hiểu biết về bối cảnh cuộc sống. Năng lực cự tuyệt tình yêu bao gồm hành vi cự tuyệt một cách có lý trí loại tình yêu không hy vọng hoặc không đáng tiếp nhận. Bằng phương thức cự tuyệt phù hợp xác đáng. Cũng cần nói thêm rằng với tình yêu không nên vô tâm đơn giản khi vứt bỏ nó. Bạn cần lưu ý rằng đừng làm tổn thương người khác. Muốn vậy phải có lý lẻ thuyết phục một cách ôn hòa với thái độ tôn trọng người khác. Khi chưa có sự chuẩn bị hiểu biết cho yêu đương thì tốt nhất bạn cần dũng cảm nói “không” với nó. Bạn ứng xử được như vậy tức là đã có năng lực cự tuyệt tình yêu rồi.

 

Ba là bạn cần bồi dưỡng cho mình năng lực chịu đựng thất tình. Thực tế cho thấy tình huống này thường gặp phải. Nhất là trong bối cảnh ngày nay nhiều bạn có quan niệm quá “cấp tiến” trong yêu đương. Nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra. Nói nôm na thất tình là việc trong quá trình yêu đương bị cắt đứt giữa chừng. Về hình thức thì đó là sự chia ly giữa hai người. Về chủ quan thì có sự mất mát tình cảm trạng thái tinh thần bi thương sầu muộn thất vọng bế tắc. Năng lực chịu đựng sự thất tình biểu hiện ở thái độ ứng xử chính xác khi bị thất tình vẫn có hành vi có lý trí và đạo đức. Cần hiểu rằng thất tình không phải là thất bại mà tuyệt vọng. Đôi khi bạn cảm thấy bất mãn bất cần đời sau khi thất tình đẫn đến hành động ngu ngốc. Tôi vẫn nhớ một câu rất hay từ người cha của mình khi tôi thất tình “Con ạ làm gì có chuyện con yêu người ta hơn cả bản thân mình. Nếu không có con thì làm gì có tình yêu”. Thất tình càng không phải là thất chí thất đức. Sau thất tình không phải vì thế mà nản lòng tiêu cực mất đi ý chí phấn đấu. Mình không vươn lên tức là mình không đáng trọng mà mình không còn là người đáng trọng thì làm gì có tình yêu. Càng không thể coi người mình yêu là kẻ thù rồi dùng thủ đoạn vô đạo đức để trả thù. Lúc này mà ích kỷ nhỏ nhen là mầm mống của hành vi vô đạo đức. Chỉ có sự cao thượng mới đáng trân trọng.

 

Biết yêu biết đón nhận tình yêu biết cự tuyệt nó khi chưa có sự chuẩn bị cần thiết và biết vững vàng khi bị thất thình là những phẩm chất tôt của tuổi trẻ. Bạn nên học.

 

More...

TÌNH YÊU SINH VIÊN

By Làng Đại Phong

 

 

Tình yêu thời sinh viên là một thực tế không thể lãng tránh. Cũng đã có nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề này và cho nhiều lời khuyên. Người thì nói chưa nên vì nghề nghiệp chưa có điều kiện đảm bảo cuộc sống chưa có ra trường mỗi đứa một ngã biết bao trắc trở hãy dành thời gian cho học tập. Người thì nói tình yêu là lẽ tự nhiên nó là một phần của cuộc sống một trải nghiệm lối sống có sao đâu. Các bậc phụ huynh thì tỏ ra lo lắng bỡi tình yêu thời @ đã để lại bao nhiêu câu chuyện khóc dở mếu dở. Bỡi các bạn trẻ bây giờ dễ dãi đơn giản quá tình dục quá. Còn các cô tú cậu tú thì đang trong giai đoạn bản lề của hoàn thiện nhân cách chưa đủ bản lĩnh của người lớn cảm tính phổi bò có khi liều mạng không cần xét hậu quả. Đây đó vẫn có những kẻ sở khanh hậu hoạ khôn lường. Đã có nhiều vụ án đau lòng có xuất xứ từ chuyện tình sinh viên. Vậy nên nhìn nó thế nào.

Trước hết chuyện tình yêu trong giới sinh viên là một hiện thực không thể lẩn tránh. Tuyệt đại đa số sinh viên yêu khi đang học. Không yêu mới là chuyện dị thường. cũng chẳng có gì đáng trách bỡi giai đoạn này là gia đoạn thăng hoa của giới trẻ. Thời kỳ hoàng kim phơi phới rạng rỡ đến mức không thể che đậy được. Nhu cầu giao tiếp khác giới rất mạnh mẽ đến mức cuồng sy. Bối cảnh thì thuận lợi họ thoát ra khỏi sự kiểm soát của gia đình. Họ có môi trường giao tiếp mới rất nhiều bạn bè chẳng giống thời học trò. Lý lẻ yêu đương nhiều khi rất đơn giản “chẳng lẽ nó có mà mình không có”. Không ngăn được không hãm được.

Thứ hai yêu đương nên biết ảnh hưởng của nó đến bản thân là rất lớn. Có hai xu hướng tiến triển một là tình yêu sẽ trở thành chất xúc tác để bạn trẻ học hành tốt hơn mỗi khi chuyện yêu đương vượt qua khỏi khái niệm tình dục tầm thường. Hai người sẽ trở thành đôi bạn học tập nâng đỡ nhau để đạt đến mục tiêu chuyên môn cao - sinh kế của ngày mai. Xu hướng thứ hai là tình yêu sẽ phân tán tinh lực lãng phí thời gian tụt dốc lối sống tình cảm bị động. Thực tế cho thấy xu hướng thứ hai nhiều hơn. Bỡi khi yêu người ta thường si mê lú lẫn. Tâm trí luôn hướng về người yêu đôi khi ở cùng ký túc xá mà mỗi ngày chưa nhìn thấy nhau là vướng mắc chẳng yên. Lúc nào cũng muốn bên nhau nên học hành chểnh mảng. Tình phí không có thì phải xoay xở đôi khi rớt vào vòng xoáy lô đề nói dối bố mẹ… Với những bạn đã nếm trái cấm thì ma lực của nó càng mạnh hơn không cưỡng được.

Thứ ba sai lầm về nhận thức khi yêu. Những sai lầm đó bộc lộ qua mấy điểm

-Lầm tưởng có cảm tình với tình yêu. Đôi khi bạn thích một điều gì đó và vô tình bắt gặp cái đó ở người kia. Có khi rất đơn giản đó là búi tóc đuôi sam ngúng nguẩy đó là cái cách đi vừa đi vừa nhảy đó là cách nói chuyện mà mắt nhìn xuống chân di di vạt cỏ đó là một nụ cười lóe lên sau ánh đèn… Nhiều lý do để bạn bị vướng vào lưới tình khi mà đã có sẵn lực hút của khác giới. Thế là bạn yêu yêu là yêu chứ biết đi về đâu.

- Coi tình yêu như phương thuốc giải sầu an ủi tâm hồn trống vắng. Hoặc chạy theo mốt họ có mình cũng phải có chứ kém cạnh gì. Cái cách mà chỉ đề làm vừa lòng mọi người mà thôi. Có một thời người ta đã quan niệm tình yêu sinh viên là VLC chữ viết tắt của từ “vui là chính”. Lối sống đó đã làm nhiều bạn chết dở vì sau khi chia tay tai tiếng cứ theo mãi “ế”.

Thứ tư thời kỳ hợp lý cho yêu đương. Hơi duy tâm một tý nhưng nên thế. Bạn nên biết rằng đời sinh viên có 3 giai đoạn phát triển đáng lưu ý. Gia đoạn 1 là giai đoạn của năm đầu. Có thể gọi nó là giai đoạn quá độ thích ứng. Bạn phải làm quen với lối sống tự lập xa bố mẹ sống tập thể lệ thuộc vào nhau làm quen với phương pháp học tập mới (tự học là chính) làm quen với khí hậu sinh họat ăn uống… Đặc biệt là bạn phải tự mình giải quyết lấy trong lúc vừa thoát khỏi đời học sinh phổ thông còn rất ngỡ ngàng thậm chí lo sợ. Giai đoạn 2 là giai đoạn từ năm thứ 2 đến năm thứ 4. Đây là giai đoạn phát triển khá ổn định khẩn trương sôi nổi vững vàng về tâm sinh lý hình thành ý thức nghề nghiệp. Gai đoạn thứ 3 là giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp ra trường toan tính cho tương lai.

Tôi không khuyên bạn yêu vào lúc nào nhưng nên tránh vào năm đầu. Khi đó ta còn non nớt lắm dễ tổn thương. Tôi chỉ khuyên bạn nên hiểu sự khác nhau giữa tình bạn khác giới tình yêu. Yêu là có mục đích để xây dựng gia đình để đi đến hôn nhân. Ta sẽ gắn bó cả đời với nó nên phải tỉnh táo một chút. Đừng để những trắc trở làm thui chột lãng mạn làm chia lìa tình yêu.

Có lẽ thời cơ tốt cho tình yêu là khi bạn có sự từng trãi xã hội ổn định tâm sinh lý độc lập về kinh tế.

More...

TOÁT YẾU LỊCH SỬ VIỆT NAM (P2 sưu tầm)

By Làng Đại Phong

 Sự kháng cự của người Việt

Lý Tự Tiên Đinh Kiến Mai Thúc Loan Phùng Hưng Dương Thanh Các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc lần 3

Mùa thu năm 687 do không chịu nổi ách sưu thuế nặng nề người châu Giao là Lý Tự Tiên liền lãnh đạo dân nổi dậy. Quan nhà Đường cai trị là Lưu Diên Hựu đã giết Lý Tự Tiên. Đồng chí của Lý Tự Tiên là Đinh Kiến đem quân vây đánh Lưu Diên Hựu chiếm được thành Tống Bình và giết được viên quan này. Nhà Đường phải phái Tào Trực Tĩnh từ châu Quế sang dẹp và giết Đinh Kiến.

Tháng 4 năm 713 Mai Thúc Loan người châu Hoan xưng vua cho xây thành lũy lập kinh đô Vạn An[6] tích cực rèn tập tướng sỹ và sai sứ giả sang các nước Lâm Ấp Chân Lạp phủ dụ họ đem quân hỗ trợ. Ông tự xưng là Mai Hắc Đế. Năm 714 Mai Hắc Đế tiến binh đánh thành Tống Bình. Thái thú nhà Đường là Quách Sở Khách cùng đám thuộc hạ không chống cự lại được phải bỏ thành chạy về nước. Lực lượng Mai Hắc Đế lúc đó lên tới chục vạn quân. Nhà Đường bèn huy động 10 vạn quân do tướng Dương Thừa Húc và Quách Sở Khách sang đàn áp được.

Năm 791 anh em Phùng Hưng và Phùng Hãi nổi dậy kéo quân vây Phủ Đô hộ An Nam. Tiết độ sứ là Cao Chính Bình đối phó không được nên sinh bệnh mà chết. Phùng Hưng chiếm thành làm chủ châu Giao. Sau khi ông mất con ông là Phùng An đã đầu hàng Triệu Xương nhà Đường.

Năm 819 người Tày - Nùng ở Tả Hữu Giang (phía Tây Bắc của châu Giao) nổi dậy chống nhà Đường. Quan cai trị Lý Tượng Cổ (tông thất nhà Đường) sai thứ sử châu Hoan là Dương Thanh mang 3.000 quân đi dẹp. Dương Thanh thừa cơ nổi dậy chiếm được Phủ Đô hộ giết được Lý Tượng Cổ. Sau tướng nhà Đường là Quế Trọng Vũ dùng kế chia rẽ Dương Thanh với các tướng thuộc hạ. Ông không giữ được thành cuối cùng bị bắt và bị giết. Các thủ hạ lui về giữ Trường châu[7] đến tháng 7 năm 820 thì bị dẹp hẳn.

Ngoài 4 cuộc khởi nghĩa lớn trên còn nhiều cuộc nổi dậy nhỏ khác của người Việt như các năm 803 823 841 858 860 880... Nhiều lần quan đô hộ nhà Đường đã bỏ phủ thành chạy.

Người Việt giành lại quyền tự chủ

Khúc Thừa Dụ

Trong thời kỳ đầu nhà Đường còn mạnh các cuộc nổi dậy của người Việt ít xảy ra và hay bị đàn áp nhanh chóng. Từ sau loạn An Sử (755-763) nhà Đường phải đối phó với nạn phiên trấn cát cứ. Từ 10 Tiết độ sứ thời Đường Huyền Tông tăng lên thành 40-50 trấn sự kiểm soát của chính quyền trung ương ngày càng yếu đi.

Đó chính là điều kiện cho các cuộc nổi dậy của người Việt trong thế kỷ 9 thường xảy ra hơn.

Mặt khác người Việt thuộc tầng lớp trên ngày càng có vai trò quan trọng hơn trước trong bộ máy cai trị dù nhìn chung họ vẫn bị người phương Bắc áp chế[2]. Một số hào trưởng người Việt được nhà Đường sử dụng vào việc cai trị ở địa phương để quản lý người bản địa. Điển hình trong những người Việt thăng tiến nhất là Khương Công Phụ đã sang phương Bắc thi đỗ tiến sĩ và làm quan ở trung nguyên.

Cuối thế kỷ 9 tại Trung Quốc nổ ra khởi nghĩa Hoàng Sào. Khởi nghĩa bị tiêu diệt nhưng các quân phiệt cũng nhân đó gây nội chiến và cát cứ công khai. Nhà Đường bị quyền thần Chu Ôn khống chế.

Chu Ôn từng cho anh ruột là Chu Toàn Dục sang làm Tiết độ sứ ở Việt Nam nhưng Toàn Dục quá kém cỏi không đương nổi công việc nên Chu Ôn phải gọi về.

Năm 905 Chu Ôn ghét Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân là Độc Cô Tổn là người không cùng cánh đày ra đảo Hải Nam và giết chết. Trong lúc nhà Đường chưa kịp cử quan cai trị mới sang trấn nhậm một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm lấy thủ phủ Đại La[8] tự xưng là Tiết độ sứ. Chu Ôn đang mưu cướp ngôi nhà Đường đã nhân danh vua Đường thừa nhận Khúc Thừa Dụ.

Người Việt khôi phục quyền tự chủ từ đó. Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 3 kéo dài hơn 300 năm chấm dứt.

Các quan đô hộ

Sử sách ghi lại các quan đô hộ đã sang Việt Nam trong thời kỳ này gồm một danh sách không đầy đủ như sau (những người ghi bằng chữ nghiêng có liên quan tới những cuộc nổi dậy của người Việt)[9]:

  • Khâu Hoà
  • Lý Thọ
  • Lý Đạo Hưng
  • ...
  • Lưu Diên Hựu
  • Quang Sở Khách
  • ...
  • Trương Bá Nghi
  • Ô Sùng Phúc
  • Trương Đình
  • Bàng Phục
  • Cao Chính Bình
  • ...
  • Triệu Xương (2 lần 1 lần sau Bùi Thái)
  • Bùi Thái
  • Trương Chu
  • Mã Tống
  • Trương Lệ
  • Bùi Hành Lập
  • Lý Tượng Cổ
  • Quế Trọng Vũ
  • Bùi Hành Lập
  • Vương Thừa Điển
  • Lý Nguyên Hỷ
  • Hàn Ước
  • Trịnh Xước
  • Lưu Mân
  • Hàn Hy
  • Điền Tảo
  • Mã Thực
  • Vũ Hồn
  • Bùi Nguyên Dụ
  • Điền Tại Hựu
  • Thôi Cảnh
  • Lý Trác
  • Lý Hoàng Phủ
  • Tống Nhai
  • Vương Thức
  • Lý Hộ
  • Vương Khoan
  • Sái Tập
  • Tống Nhung
  • Cao Biền
  • Cao Tầm
  • Tăng Cổn
  • Cao Mậu Khanh
  • Tạ Triệu
  • An Hữu Quyền
  • Chu Toàn Dục
  • Độc Cô Tổn

 

THỜI THUỘC MINH (Bắc thuộc lần thứ 4)

Chiến tranh Minh-Đại Ngu

Cuối thế kỉ 14 nhà Trần sa sút Hồ Quý Ly dần dần kiểm soát cả triều đình ra nhiều biện pháp thanh trừng những người trung thành với triều Trần. Ông lên ngôi vua năm 1400 đặt tên nước là Đại Ngu bắt đầu thực hiện nhiều cải tổ trong hệ thống chính trị và xã hội. Tuy nhiên do thực hiện quá nhiều thay đổi trong thời gian ngắn lại không được nhiều cựu thần nhà Trần cũng như dân chúng ủng hộ lại thêm tình hình kinh tế và xã hội toàn quốc suy yếu vì nhiều nguyên nhân nên đất nước rơi vào khủng hoảng. Nhân cơ hội đó năm 1406 nhà MinhTrung Quốc dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để mang quân sang xâm lược nước Đại Ngu. Nhà Hồ nhanh chóng thất bại hoàn toàn vào giữa năm 1407. Nước Đại Ngu bị tiêu diệt và bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.

Tướng nhà Minh là Trương Phụ xui giục một số người Việt đến trước quân doanh xin được trở lại làm quận huyện của nhà Minh vì nhà Trần đã tuyệt tự[1]. Minh Thành Tổ nhân đó đổi gọi An Nam thành quận Giao Chỉ kinh đô Thăng Long trước đây đổi gọi là thành Đông Quan.

Bộ máy cai trị

Quận Giao Chỉ được thiết lập bộ máy cai trị giống như các đơn vị hành chính của nhà Minh khi đó gồm có 3 ty trực tiếp thuộc vào triều đình Yên Kinh:

  1. Đô chỉ huy sứ ty phụ trách quân chính
  2. Thừa tuyên bố chính sứ ty phụ trách dân sự và tài chính
  3. Đề hình án sát sứ ty phụ trách tư pháp

Các quan chánh phó các ty đều là người phương bắc sang. Một số người Việt được trọng dụng vì có công với nhà Minh như Nguyễn Huân Mạc Thúy Lương Nhữ Hốt Trần Phong Đỗ Duy Trung

Để duy trì bộ máy cai trị năm 1407 nhà Minh thiết lập các vệ quân (5.000 quân) bản xứ gồm Tả Hữu Trung đóng trong thành Đông Quan Tiền quân đóng ở phía bắc sông Phú Lương và các thiên hộ sở (1.000 quân) đóng đồn ở những nơi xung yếu như Thị Cầu cần hai thiên hộ sở Ải Lưu một thiên hộ sở. Đặt tại Xương Giang một vệ và Qiu-wen(?) một vệ quân canh giữ. Trong đạo quân viễn chinh 2.500 quân Quảng Tây 4.750 quân Quảng Đông 6.750 quân Hồ Quảng 2.500 quân Triết Giang 1.500 quân Giang Tây 1.500 quân Phúc Kiến hơn 4.000 quân Vân Nam được lệnh ở lại. Việc bắt lính bản địa được xúc tiến để hỗ trợ quân Minh đóng đồn giữ.[2]

Dân số hành chính

Năm 1408 nhà Minh kiểm soát được dân số 3.120.000 người người “man” 2.087.500 người thì sau 10 năm chỉ còn quản lý được 162.558 hộ với 450.288 nhân khẩu[3].

Cao Hùng Trưng tác giả sách An Nam chí cho biết: Nhà Minh chia quận Giao Chỉ làm 17 phủ là:

Dưới 17 phủ là 47 châu 154 huyện 1 vệ 13 sở 1 thuyền chợ[4].

Trong 17 phủ trên phủ Thăng Hoa thực chất chỉ đặt khống vì khi quân Minh tiến đến Hóa châu thì vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại đã mang quân chiếm lại những vùng đất phải nộp cho nhà Hồ trước đây (năm 1402) là 4 châu Thăng Hoa Tư Nghĩa. Do đó trên thực tế nhà Minh chỉ cai quản Giao Chỉ gồm 16 phủ địa giới phía nam chỉ đến Hóa châu[5].

Năm 1408 Trương Phụ tâu về nhà Minh: Giao Chỉ đông tây dài 1760 dặm nam bắc dài 2700 dặm.

Để tăng cường quản lý Giao Chỉ năm 1419 theo đề nghị của Lý Bân nhà Minh tổ chức lại hệ thống thôn thành giáp. Cứ 10 hộ thành 1 giáp do Giáp trưởng đứng đầu; 110 hộ thành 1 lý do lý trưởng đứng đầu. Tương đương với lý tại nội thành gọi là phường tại ngoại thành gọi là sương.

Chức năng chính của Lý trưởng và Giáp trưởng là thu thuế cho chính quyền đô hộ. Họ thường bị o ép và đánh đập nên khi được giao chức đều rất lo sợ[4].

Để đảm bảo giao thông liên lạc giữa các phủ châu huyện của Giao Chỉ với Trung Quốc năm 1415 nhà Minh cho mở đường thủy Vĩnh An Vạn Ninh đặt trạm tiếp đón tận Khâm châu; đồng thời cho đặt trạm ngựa đến thẳng phủ Hoành châu. Trên toàn địa bàn Giao Chỉ có 374 nhà trạm nhiều nhất là phủ Giao Châu có 51 nhà trạm.

sau thời kỳ bắc thuộc đến khi người Pháp xâm lược và chiếm đóng hoàn toàn Việt Nam (938 - 1886)

 Thời nhà Đinh - Tiền Lê

Nhà Đinh chia cả nước ra làm 10 Đạo dưới Đạo là Châu Động nhà Tiền Lê kế tiếp duy trì như nhà Đinh

 Thời nhà Lý

Đầu thời nhà Lý chia cả nước ra thành 24 Lộ (ngoài ra còn có Phủ Châu) dưới trung ương nhưng các sách như Cương mụcToàn thư chỉ chép ra 12 lộ còn lại 12 lộ không rõ tên. Toàn thư ghi các lộ phủ châu như sau:

 Các Lộ (12 lộ)

Lộ Thiên Trường Lộ Quốc Oai Lộ Hải Đông Lộ Kiến Xương Lộ Khoái Lộ Hoàng Giang Lộ Long Hưng Lộ Bắc Giang Lộ Trường Yên Lộ Hồng Lộ Thanh Hóa Lộ Diễn Châu

 Các Phủ (6 phủ)

Phủ Đô Hộ phủ Ứng Thiên Phủ Phú Lương phủ Nghệ An Phủ Thiên Đức Phủ Trường Yên

 Các Châu

Châu Thảng Do Châu Thất Nguyên Châu Định Nguyên Châu Trệ Nguyên Châu Quảng Nguyên Châu Tây Nông Châu Vạn Nhai Châu Vũ Lặc châu Vũ Ninh Châu Đăng Châu Châu Lộng Thạch Châu Định Biên Châu Văn Châu Châu Lạng Châu Châu Chân Đăng (hay Đạo Lâm Tây) Châu Phong Châu Bố Chính Châu Lâm Bình Châu Minh Linh Châu Vị Long Châu Đô Kim Châu Thường Tân Châu Bình Lâm Châu Vĩnh An

  • Châu Bố Chính Lâm Bình Minh Linh là 3 châu lấy được của Chiêm Thành năm 1069
  • Đạo Lâm Tây lấy được sau khi Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông đánh bại Đại Lý vào các năm 1014 và 1037

Về sau sáp nhập và đổi tên một số đơn vị hành chính như: phủ Nghệ An thành trại Nghệ An Châu Lâm Bình Minh Linh Bố Chính gộp lại thành trại Tân Bình Châu Định Nguyên Bình Nguyên gộp lại thành trại Quy Hóa

Thời nhà Trần

Nhà Trần chia các đơn vị hành chính dưới trung ương là: Lộ Phủ Trấn.

 Các Lộ

Lộ Đông Đô Lộ Bắc Giang Lộ Lạng Giang Lộ Lạng Sơn Lộ Long Hưng Lộ Khoái Châu Lộ Hoàng Giang Lộ Hải Đông Lộ Tam Giang

 Các Phủ

Phủ Kiến Xương Phủ Kiến Hưng Phủ Tân Hưng Phủ Thiên Trường

 Các Trấn

Trấn Thiên Quan Trấn Quảng Oai Trấn Thiên Hưng Trấn Thanh Đô Trấn Vọng Giang Trấn Tân Bình Trấn Thuận Hóa trấn Thuận Hóa (có được sau khi Chiêm Thành cắt dâng năm 1307) trấn Tân Bình (đổi tên từ trại Tân Bình thời Lý)

Đơn vị hành chính dưới Lộ Phủ Trấn: là Châu dưới ChâuHuyện

 Thời nhà Hậu Lê

Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã chia cả nước ban đầu thành 4 đạo đến năm 1428 chia thành 5 đạo: Đông Tây Nam Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Dưới đạo là trấn lộ huyện châu và cấp cơ sở là xã.

 Các đạo

  1. Trung Đô (là kinh đô của Triều đình còn gọi là Đông Kinh nay là Hà Nội)
  2. Bắc đạo (Bắc Ninh Bắc Giang Lạng Sơn Cao Bằng Thái Nguyên Bắc Cạn)
  3. Tây đạo (Hà Tây Vĩnh Phúc Phú Thọ Yên Bái Sơn La Hòa Bình)
  4. Đông đạo (Hải Dương Hải Phòng Quảng Ninh)
  5. Nam đạo (Hà Nam Hưng Yên Nam Định Thái Bình)
  6. Hải Tây đạo (Ninh Bình vào Thừa Thiên-Huế)

Năm 1466 vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên đổi trấn thành châu đổi lộ thành phủ. Các đơn vị hành chính trực thuộc dưới cấp trung ương (triều đình) là thừa tuyên rồi đổi thành xứ. Quy mô và diện tích các thừa tuyên/xứ tương đương với 2 3 tỉnh hiện nay. Ví dụ: xứ Sơn Nam tương ứng với (Nam Định Thái Bình Hưng Yên) xứ Nghệ An tương ứng với (Nghệ An Hà Tĩnh) xứ Thuận Hóa tương ứng với (Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên) xứ Quảng Nam tương ứng với (Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định

 Các Thừa tuyên/xứ

  1. Thừa tuyên Thiên Trường (năm 1469 đổi thành Sơn Nam)
  2. Thừa tuyên Bắc Giang (năm 1469 đổi thành Kinh Bắc)
  3. Thừa tuyên Quốc Oai (năm 1469 đổi thành Sơn Tây)
  4. Thừa tuyên Nam Sách (năm 1469 đổi thành Hải Dương)
  5. Thừa tuyên An Bang hay Yên Bang
  6. Thừa tuyên Lạng Sơn
  7. Thừa tuyên Thái Nguyên (năm 1469 đổi thành Ninh Sóc)
  8. Thừa tuyên Tuyên Quang
  9. Thừa tuyên Hưng Hóa
  10. Thừa tuyên Thanh Hóa còn gọi là Thanh Hoa (sau nhập thêm phần đất Thanh Hoa Ngoại ngày nay là tỉnh Ninh Bình từ xứ Sơn Nam vào)
  11. Thừa tuyên Nghệ An
  12. Thừa tuyên Thuận Hóa
  13. Thừa tuyên Quảng Nam (lập năm 1472 sau khi đánh bại Chiêm Thành)

 Thời Lê Trung Hưng - Đàng Ngoài

Từ đầu thế kỷ 17 Đại Việt bị chia làm hai lãnh thổ là Đàng Ngoài và Đàng Trong Chính quyền chúa Trịnh đã chia lãnh thổ Đàng Ngoài như sau:

Cấp trực tiếp dưới chính quyền trung ương là các Trấn (vùng đồng bằng) và các Phiên trấn vùng miền núi xung quanh

 các Trấn

  1. Trung Đô là kinh đô của Triều Đình nay là Hà Nội
  2. Trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh Bắc Giang)
  3. Trấn Hải Dương (Hải Dương Hải Phòng)
  4. Trấn Sơn Nam (Hà Đông Hà Nam Hưng Yên Nam Định Thái Bình)
  5. Trấn Sơn Tây (Hà Tây Phú Thọ Vĩnh Phúc)
  6. Trấn Thanh Hoa (Ninh Bình Thanh Hóa)
  7. Trấn Nghệ An (Nghệ An Hà Tĩnh)
  8. Trấn Yên Bang (Quảng Ninh)

 các Phiên trấn

  1. Phiên trấn Cao Bằng
  2. Phiên trấn Lạng Sơn
  3. Phiên trấn Tuyên Quang (Tuyên Quang Hà Giang ngày nay)
  4. Phiên trấn Thái Nguyên (Thái Nguyên Bắc Cạn ngày nay)
  5. Phiên trấn Hưng Hóa (Hòa Bình Sơn La Yên Bái ngày nay)

 Thời Lê Trung Hưng - Đàng Trong

Chính quyền chúa Nguyễn ban đầu quản lý vùng Thuận Hoá-Quảng Nam về sau từng bước mở rộng thêm lãnh thổ nên phân cấp hành chính cũng thay đổi theo tới năm 1757 đã định hình lãnh thổ phía nam như ngày nay và phân chia làm 12 dinh + 01 trấn trực thuộc chính quyền trung ương:

 Các Dinh

  1. Chính dinh (Phú Xuân)
  2. Cựu dinh (Quảng Trị)
  3. Quảng Bình dinh (Quảng Bình)
  4. Lưu Đồn dinh (Quảng Bình)
  5. Bố chính dinh (Quảng Bình)
  6. Quảng Nam dinh (Quảng Nam-Quảng Ngãi-Bình Định)
  7. Phú Yên dinh (Phú Yên)
  8. Bình Khang dinh (Khánh Hoà- Bắc Ninh Thuận)
  9. Bình Thuận dinh (Bình Thuận- Nam Ninh Thuận)
  10. Phiên Trấn dinh (Gia Định)
  11. Trấn Biên dinh (Biên Hoà)
  12. Long Hồ dinh (Vĩnh Long)

 Các Trấn

  1. Hà Tiên trấn (Kiên Giang-Hà Tiên-Cà Mau-Bạc Liêu)

Dưới Dinh Trấn là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phủ huyện

 Thời nhà Nguyễn

Vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn 4 doanh (dinh).

Sơn Nam Thượng Sơn Nam Hạ Sơn Tây Kinh Bắc Hải Dương (còn gọi là ngũ nội trấn) và Tuyên Quang Hưng Hóa Cao Bằng Lạng Sơn Quảng Yên Thái Nguyên (còn gọi là lục ngoại trấn)

Sau này Quảng Nghĩa do kỵ húy Nguyễn Phúc Toản nên đổi thành Quảng Ngãi.

Từ năm 1831-1832 vua Minh Mạng lần đầu tiên chia thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên trực tiếp dưới cấp trung ương (triều đình). Dưới tỉnhphủ huyện.

Bắc Ninh Cao Bằng Hà Nội Hải Dương Hưng Hóa Hưng Yên Lạng Sơn Nam Định Ninh Bình Quảng Yên Sơn Tây Thái Nguyên Tuyên Quang

Thanh Hoá Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị (5 tỉnh này lập ra năm 1831 các tỉnh còn lại lập ra năm 1832) Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Khánh Hòa Phú Yên Bình Thuận. Ngoài ra vẫn tồn tại phủ Thừa Thiên ngang cấp tỉnh trực thuộc kinh sư. Thời kỳ 1853-1876 tỉnh Quảng Trị đổi thành đạo Quảng Trị thuộc phủ Thừa Thiên. Từ ngày 6 tháng 6 năm 1884 miền Trung có 12 tỉnh trong đó hai tỉnh mới là Thừa ThiênQuảng Trị (Nam Kỳ lục tỉnh): Phiên An (năm 1836 đổi thành Gia Định) Biên Hòa Định Tường Vĩnh Long An Giang Hà Tiên.

Những tỉnh tồn tại thời vua Minh Mạng nhưng sau Pháp chia tách:

tỉnh Hà Tiên sau Pháp chia ra 4 tỉnh: Hà Tiên Rạch Giá Long Xuyên Bạc Liêu

More...

TOÁT YẾU LỊCH SỬ VIỆT NAM (P1 sưu tầm)

By Làng Đại Phong

 


Lịch sử Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)

Hai Bà Trưng (40 - 43)

Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu

Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)

Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng

Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn

Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân

Nhà Đinh (968 - 980)

Nhà Tiền Lê (980 - 1009)

Nhà Lý (1009 - 1225)

Nhà Trần (1225 - 1400)

Nhà Hồ (1400 - 1407)

Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn

Nhà Hậu Lê (1428 - 1788)

   Lê sơ

   
   trung
   hưng

Nhà Mạc

Trịnh-Nguyễn
phân tranh

Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)

Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)

 

THỜI KỲ BẮC THUỘC LẦN THỨ 1

(kéo dài từ năm 207 TCN hoặc 179 TCN hoặc 111 TCN đến năm 39 dưới sự cai trị của phong kiến Trung Quốc).

Dấu mốc xác định thời Bắc thuộc đầu tiên chưa thống nhất giữa các sử gia do quan niệm khác nhau về nước Nam ViệtTriệu Đà.

-Quan điểm thừa nhận Triệu Đà là vua chính thống của Việt Nam (Đại Việt sử ký toàn thư Khâm định Việt sử thông giám cương mục Việt Nam sử lược) xác định rằng khi nhà Triệu bị Hán Vũ Đế diệt năm 111 TCN lúc bắt đầu thời Bắc thuộc. Theo mốc thời gian này thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 150 năm. Theo quan điểm này thời Bắc thuộc lần 1 thực chất là thời thuộc Hán.

-Quan điểm không thừa nhận Triệu Đà là vua chính thống của Việt Nam (Việt sử tiêu án các sách Lịch sử Việt Nam của các sử gia hiện đại) xác định thời Bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt An Dương Vương:

+Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị tiêu diệt năm 207 TCN. Theo mốc thời gian này thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 246 năm.

+Sử hiện đại căn cứ theo ghi chép của Sử ký Tư Mã Thiên là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc "sau khi Lã Hậu mất" tức là khoảng năm 179 TCN. Theo mốc thời gian này thời Bắc thuộc lần 1 kéo dài 218 năm.

1.Sự cai trị của Trung Quốc

Sau khi chiếm Âu Lạc Triệu Đà chia lãnh thổ làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Trông coi 2 quận này là hai viên quan sứ (đại diện cho triều đình Phiên Ngung). Theo ý kiến các sử gia điều này chứng tỏ nhà Triệu không trực tiếp cai trị Giao ChỉCửu Chân người Âu Lạc chỉ mất một triều đình độc lập (nhà Thục) chế độ Lạc tướng cha truyền con nối vẫn được duy trì và tổ chức vùng (bộ hay bộ lạc) của người Việt vẫn chưa bị xóa bỏ[1]. Thậm chí trong vùng đất cũ của vua Thục vẫn còn vương hiệu (Tây Vu vương).

Các sử gia cũng đánh giá: việc thừa nhận chế độ Lạc tướng của người Việt là chính sách cai trị khôn ngoan của Triệu Đà vì triều đình Nam Việt sở dĩ tồn tại được ngoài sự phù trợ của một số người Hán còn có sự ủng hộ của các tù trưởng địa phương người Việt[1]. Các tù trưởng người Việt Lạc tướng vẫn cai trị hàng năm nộp cống cho nhà Triệu thông qua hai quan sứ. Giúp việc cho hai quan sứ có một số quan chức cả người Hán lẫn Việt[2].

Biến cố đáng kể nhất của thời Bắc thuộc lần 1 là cuộc chiến giữa nhà Hán và nhà Triệu cuối thế kỷ 2 TCN dẫn tới sự thay đổi chủ quyền cai trị lãnh thổ miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam từ tay nhà Triệu sang tay nhà Hán.

Cuối thế kỷ 2 TCN nhân lúc nhà Triệu suy yếu Hán Vũ Đế định dùng phương pháp ngoại giao để thu phục đất Nam Việt nhưng không thành công vì gặp sự chống đối của tể tướng Lữ Gia. Hán Vũ Đế quyết định sử dụng quân sự và mở cuộc tấn công quy mô vào năm 111 TCN. Do lực lượng chênh lệch nhà Triệu nhanh chóng thất bại.

Tướng Hán là Lộ Bác Đức hạ được kinh thành Phiên Ngung của Nam Việt nhưng chưa tiến vào lãnh thổ Âu Lạc cũ. Thủ lĩnh người Việt là Tây Vu vương định nổi dậy chống Hán nhưng bị tả tướng Hoàng Đồng giết chết để hàng Hán. Nước Nam Việt trong đó bao gồm lãnh thổ Việt Nam từ đó thuộc quyền cai quản của nhà Hán.

Nhà Hán xác lập bộ máy cai trị chặt chẽ hơn so với nhà Triệu thiết lập đơn vị cai trị cấp châu và quận. Tại các huyện chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt vẫn được duy trì nhà Hán “dùng tục cũ để cai trị”[3].

Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán lập nhà Tân (năm 8) thứ sử Giao Châu là Đặng Nhượng và thái thú Tích Quang theo các thái thú ở Giang Nam cùng nhau cát cứ chống nhà Tân. Năm 29 Hán Quang Vũ Đế cơ bản thống nhất trung nguyên. Theo lời dụ của tướng Đông Hán là Sầm Bành Tích Quang và Đặng Nhượng cùng hàng Đông Hán.

2.Hành chính và dân số

Thời Triệu

Triệu Đà chia lãnh thổ Âu Lạc cũ làm 2 quận Giao ChỉCửu Chân. Bên dưới cấp quận không có đơn vị hành chính khác. Sử sách ghi nhận tại hai quận này có 40 vạn dân thời Triệu[1].

Thời Hán

Nhà Hán đánh chiếm Nam Việt năm 111 TCN chia lãnh thổ Nam Việt làm chín quận là Nam Hải Hợp Phố (Quảng Đông) Thương Ngô Uất Lâm (Quảng Tây) Chu Nhai Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) Giao Chỉ Cửu Chân Nhật Nam (Âu Lạc cũ).

Riêng đối với quận Nhật Nam khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định)[3]. Vùng đất này được nhập vào lãnh thổ chung với miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay lần đầu tiên sau khi các quan cai trị Giao Chỉ tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn trong thời thuộc Hán và hình thành quận Nhật Nam[3].

Năm 106 TCN Hán Vũ Đế đặt bộ Giao Chỉ thống suất 7 quận ở lục địa trị sở đặt tại quận Giao Chỉ là quận lớn và quan trọng nhất[3].

Hán thư ghi nhận quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: Liên Lâu An Định Câu Lậu Mê Linh Khúc Dương Bắc Đái. Kê Tử Tây Vu Long Biên Chu Diên. Theo Hán thư quận Giao Chỉ thời Hán có 92.440 hộ - 746.237 người[4].

Về quận trị của Giao Chỉ các sách sử cũ của Trung Quốc ghi không thống nhất. Hán thư ghi huyện Liên Lâu đứng đâu về nguyên tắc đó là quận trị. Sách Giao châu ngoại vực ký cũng chép tương tự. Sách Thủy kinh chú lại xác định quận trị Giao Chỉ là huyện Mê Linh[5].

Quận Cửu Chân gồm có 7 huyện: Tư Phố Cư Phong Đô Lung Dư Phát Hàm Hoan Vô Thiết (hay Vô Biên) Vô Biên. Quận trị Cửu Chân đặt tại huyện Tư Phố thời Vương Mãng đổi gọi Tư Phố là Hoan Thành. Cửu Chân thời Hán có 35.743 hộ - 166.013 người[4].

Quận Nhật Nam do nhà Hán mới đặt sau khi đánh chiếm Nam Việt gồm có 5 huyện: Chu Ngô Tây Quyển Lô Dung Ty Ảnh và Tượng Lâm. Quận trị của Nhật Nam tại Tây Quyển. Thời nhà Tân Vương Mãng đổi gọi là Nhật Nam đình. Nhật Nam thời thuộc Hán có 15.460 hộ và 69.485 người[4].

Như vậy tổng số hộ tại 3 quận Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam là 142.823 với 981.735 người. So với thời Triệu dân số tăng gấp khoảng 2 5 lần.

BẮC THUỘC LẦN THỨ 2

1.Biến động qua 7 triều đại

Cuối Đông Hán

Sau khi Hai Bà Trưng thất bại nhà Đông Hán tiếp tục duy trì sự cai trị tại Giao Chỉ. Cuối thế kỷ 2 nhà Đông Hán suy yếu chiến tranh quân phiệt bùng nổ. Hán Hiến Đế bị các quyền thần thay nhau khống chế.

Trước tình hình đó Thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp xin nhà Hán cho 3 người em là Sĩ Nhất Sĩ Vĩ và Sĩ Vũ làm thái thú các quận: Sĩ Nhất làm Thái thú Hợp Phố Sĩ Vĩ làm Thái thú Cửu Chân Sĩ Vũ làm Thái thú Nam Hải. Triều đình nhà Hán do rối loạn trong nước không thể quản lý Giao Chỉ xa xôi nên mặc nhiên thừa nhận. Từ đó thế lực họ Sĩ ở Giao Chỉ rất lớn.

Năm 192 người bản địa quận Nhật Nam theo Khu Liên khởi binh chống nhà Hán và thành lập nước Chăm Pa độc lập. Lực lượng nhà Hán ở phía nam yếu ớt không chống nổi bất lực trước sự ly khai của Khu Liên. Từ đó phía nam Nhật Nam trở thành nước Chăm Pa tách hẳn sự cai trị của nhà Hán và các triều đại Trung Quốc sau này.

Năm 200 Tào Tháo đang nắm vua Hiến Đế ở Hứa Xương đánh bại được đối thủ quân phiệt lớn nhất là Viên Thiệu trong trận quyết định ở Quan Độ. Nắm quyền chủ động ở trung nguyên Tào Tháo bắt đầu quan tâm tới miền nam. Năm 201 Tào Tháo nhân danh Hiến Đế cử Trương Tân sang làm thứ sử Giao Chỉ[1].

Năm 203 Trương Tân và Sĩ Nhiếp cùng nhau dâng biểu xin lập Bộ Giao Chỉ làm châu nhà Hán mới đặt Giao Chỉ làm Giao Châu. Từ đó Giao Châu được ngang hàng với các châu khác ở Trung Quốc. Hiến Đế phong Trương Tân làm quan mục ở Giao Châu. Bất đầu từ đấy có tên Giao Châu[2].

Năm 206 Trương Tân bị bộ tướng Khu Cảnh giết chết. Khi đó Lưu Biểu đã trấn giữ Kinh châu không thần phục Tào Tháo bèn sai thủ hạ là Lại Cung sang làm quan mục Giao châu. Cùng lúc thái thú Thương Ngô là Sử Hoàng cũng chết Lưu Biểu vội sai Ngô Cự đi cùng Lại Cung sang làm thái thú Thương Ngô.

Năm 207 Tào Tháo can thiệp vào Giao châu sai người đưa thư phong Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam trung lang tướng cho quản lý cả 7 quận Giao Châu là Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô Hợp Phố Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam và kiêm thái thú quận Giao Chỉ như trước. Trong khi đó hai thủ hạ của Lưu Biểu là Ngô Cự và Lại Cung lại bất hòa. Hai người chưa tới nơi trấn trị đã trở mặt đánh nhau. Ngô Cự đánh đuổi Lại Cung về quận Linh Lăng thuộc Kinh châu dưới quyền quản lý của Lưu Biểu.

Thời Tam Quốc

Năm 208 Lưu Biểu chết. Tào Tháo mang đại quân nam tiến đánh chiếm Kinh châu. Cuối năm 208 xảy ra trận Xích Bích. Tào Tháo thất bại trong ý đồ thống nhất Trung Hoa phải rút về trung nguyên. Tôn QuyềnLưu Bị thắng trận thừa cơ cùng nhau đánh chiếm đất Kinh châu từ tay Tào Tháo để lại.

Đối với Giao châu Tôn Quyền cũng giành lấy quyền quản lý. Năm 210 Tôn Quyền sai thủ hạ là Bộ Trắc sang làm thứ sử Giao châu. Sĩ Nhiếp tuy trước đã thần phục Tào Tháo nhưng biết không thể chống lại Tôn Quyền nên đành phải nghe theo chấp nhận ngôi vị của Bộ Trắc. Từ đó Giao châu trên danh nghĩa thuộc về họ Tôn mà ít lâu sau thành lập nước Đông Ngô khi Trung Quốc chính thức chia làm 3 nước: Tào Ngụy Thục HánĐông Ngô.

Tuy Bộ Trắc làm thứ sử nhưng thế lực của họ Sĩ vẫn rất lớn và thực quyền cai quản trong tay họ Sĩ. Sĩ Nhiếp sai con là Sĩ Hâm sang làm con tin ở Kiến Nghiệp với Tôn Quyền và được phong làm Long Biên hầu.

Năm 226 Sĩ Nhiếp chết. Sĩ Huy tự mình lên thay chức thái thú Giao Chỉ không xin lệnh Tôn Quyền. Để tăng cường quản lý phía nam Tôn Quyền chia Giao châu cũ của nhà Hán làm hai: lấy 3 quận Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng châu giao cho Lã Đại làm thứ sử; Giao châu chỉ còn 4 quận phía nam là Hợp Phố Giao Chỉ Cửu Chân và một phần quận Nhật Nam giao cho Trần Thì làm thứ sử. Tuy nhiên Sĩ Huy mang quân ngăn trở Trần Thì đến nhận chức. Tôn Quyền sai Lã Đại mang quân sang đánh để triệt bỏ họ Sĩ. Lã Đại lừa giết anh em Sĩ Huy và chiếm lấy Giao châu. Từ đó Giao châu hoàn toàn thuộc về Đông Ngô. Tôn Quyền lại bỏ Quảng châu khôi phục Giao châu gồm 7 quận như cũ cho Lã Đại làm Giao châu mục.

Cuối năm 263 Tào Ngụy diệt Thục Hán. Viên lại ở quận Giao Chỉ là Lã Hưng giết chết thái thú Tôn Tư của Đông Ngô mang quận về hàng Tào Ngụy.

Vua Ngô là Cảnh Đế Tôn Hưu vội chia lại Giao châu như ý định của Tôn Quyền năm 226: tách 3 quận Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng châu đặt trị sở ở Phiên Ngung và Giao châu gồm 4 quận phía nam là Hợp Phố Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam.

Quyền thần nhà Ngụy là Tư Mã Chiêu nhân danh Ngụy Nguyên Đế Tào Hoán phong cho Lã Hưng làm An Nam tướng quân coi việc binh ở Giao châu và sai Hoắc Dặc sang làm Thứ sử Giao châu. Cuối năm 264 Lã Hưng bị thủ hạ là công tào Lý Thống giết chết.

Năm 265 con Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm cướp ngôi nhà Ngụy lập ra nhà Tấn. Hoắc Dặc tiến cử Dương Tắc sang thay cho Lã Hưng vừa bị giết vua Tấn đồng ý.

Năm 268 Ngô Mạt Đế Tôn Hạo phong Lưu Tuấn làm thứ sử Giao châu sai đánh chiếm lại từ tay nhà Tấn nhưng bị Dương Tắc đánh bại 3 lần. Quận Uất Lâm thuộc Quảng châu của nhà Ngô cũng bị Dương Tắc chiếm đóng. Nhà Tấn theo tiến cử của Tắc cho Mao Quế làm thái thú Uất Lâm.

Năm 271 Tôn Hạo lại sai Đào Hoàng sang đánh Giao châu. Lần này quân Ngô thắng trận Đào Hoàng bắt được Dương Tắc và giết Mao Quế. Tuy nhiên Lý Tộ vẫn chiếm giữ quận Cửu Chân theo Tấn không hàng Ngô. Sau đó Đào Hoàng đánh lâu ngày mới hạ được Cửu Chân. Toàn Giao châu trở về Đông Ngô Đào Hoàng được phong làm Giao châu mục.

Năm 280 Tấn Vũ Đế diệt Ngô bắt Tôn Hạo. Hạo viết thư khuyên Đào Hoàng hàng Tấn. Hoàng đầu hàng được giữ chức cũ tới khi qua đời năm 300. Từ đó Giao châu thuộc nhà Tấn.

Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều

Từ thời Lưỡng Tấn tới thời Nam Bắc triều tuy có sự thay đổi triều đại và biến động nhiều ở trung nguyên nhưng Giao châu chỉ có những biến động quân sự không có nhiều biến động về chính trị.

Tại miền bắc các tộc Ngũ Hồ vào xâm chiếm và cai trị các triều đại Đông Tấn (317-420) Lưu Tống (420-479) Nam Tề (479-502) Lương (502-557) nối nhau cai trị ở miền nam và giữ được quyền quản lý Giao châu không bị gián đoạn thay đổi như cuối thời Đông HánTam Quốc. Những cuộc nổi dậy của người Việt chỉ kéo dài một thời gian đều bị dẹp; những cuộc xâm lấn của Lâm Ấp từ phía nam cũng nhanh chóng bị đẩy lùi (xem chi tiết các mục #Chiến tranh với Lâm Ấp#Sự chống đối của người bản địa bên dưới); một số lực lượng nổi dậy chống triều đình chạy sang Giao châu cũng nhanh chóng bị đánh bại.

2.Hành chính

Bộ Giao Chỉ gồm có 9 quận: Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô Hợp Phố Đạm Nhĩ Chu Nhai Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam. Trong 7 quận này Giao Chỉ và Cửu Chân là nước Âu Lạc cũ; các quận Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô Hợp Phố vốn là đất Nam Việt; quận Nhật Nam do nhà Hán mở rộng xuống phía nam quận Cửu Chân. Ba quận thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay là Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam[3].

Quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện quận Cửu Chân gồm có 5 huyện quận Nhật Nam gồm có 5 huyện.

Từ năm 203 theo đề nghị của thứ sử Trương Tân và Sĩ Nhiếp Giao Chỉ được lập thành Giao châu coi ngang hàng như các châu ở Trung Quốc.

Năm 264 nhà Đông Ngô chính thức cắt 3 quận Nam Hải Uất Lâm Thương Ngô phía bắc hợp thành Quảng châu Giao châu gồn 4 quận còn lại phía nam là Hợp Phố Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam.

Sau khi đánh chiếm lại được Giao châu từ tay nhà Tấn (271) Đào Hoàng đã xin với Tôn Hạo đặt thêm 2 quận Vĩnh Bình và Tân Xương trên cơ sở tách khỏi quận Giao Chỉ và đặt thêm quận Cửu Đức tách khỏi quận Cửu Chân. Như vậy Giao Châu cuối thời Ngô sang Tấn gồm có 7 quận thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay gồm có 6 quận Giao Chỉ Vĩnh Bình Tân Xương Cửu Chân Cửu Đức và Nhật Nam.

Thời Nam Bắc triều về cơ bản địa giới hành chính Giao châu như thời Lưỡng Tấn có điều chỉnh ít qua các triều đại[4]:

-Thời Lưu Tống (420-479): Đặt thêm quận Tống Bình tách từ quận Giao Chỉ và đặt quận Nghĩa Xương.

-Thời Nam Tề (479-502): có sự thêm bớt một số huyện ở các quận.

-Thời Lương: Lương Vũ Đế cải cách hành chính trong nước chia đất đặt thêm nhiều châu nhỏ trong đó tại Giao châu chia quận Giao Chỉ đặt ra Hoàng châu và quận Ninh Hải; lấy quận Cửu Chân lập ra Ái châu; lấy quận Nhật Nam đặt ra Đức châu Lợi châu và Minh châu.

BẮC THUỘC LẦN THỨ 3

Trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 602 đến năm 905. Thời kỳ này bắt đầu khi Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đánh chiếm nước Vạn Xuân bức hàng Hậu Lý Nam Đế kéo dài cho đến khi Khúc Thừa Dụ tiến vào Đại La giành quyền cai quản toàn bộ Tĩnh Hải quân năm 905 - thời Đường Ai Đế ông vua bù nhìn trong tay quyền thần Chu Ôn.

1.Các triều đại Trung Quốc cai trị Việt Nam

Năm 602 nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân 27 dinh sang đánh nước Vạn Xuân. Vua đời thứ 3 của Vạn Xuân là Lý Phật Tử sợ giặc và đầu hàng bị bắt sang Trung Quốc. Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3 mà trước hết là thuộc Tùy. Thời đó Việt Nam bị xếp làm một châu của Tùy gọi là châu Giao (交州). Trên đường đánh Lâm Ấp quay về Lưu Phương mắc bệnh chết.

Sau Lưu Phương đến Khâu Hòa được cử làm đại tổng quản. Năm 618 nhà Đường lật đổ nhà Tùy lập ra nước Đại Đường. Khâu Hòa xin thần phục nhà Đường năm 622. Việt Nam thành thuộc địa của Đại Đường.

2.Hành chính dân số

Hành chính

Năm 605 nhà Tùy đổi châu Giao thành quận Giao Chỉ quận lỵ đặt tại huyện Giao Chỉ. Đồng thời nhà Tùy đặt ra Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam. Chủ trương của nhà Tùy là thiết lập chế độ trung ương tập quyền không phong cho tông thất và công thần chỉ chuyên dùng quan lại cai trị.

Nhà Đường bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra khôi phục lại chế độ các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Năm 622 nhà Đường lập Giao châu đô hộ phủ. Người đứng đầu cơ quan này gọi tổng quản.

Năm 679 nhà Đường đổi quận Giao Chỉ trở lại thành châu Giao đặt ra Phủ Đô hộ Giao Châu. Bấy giờ vùng Lĩnh Nam có 5 đô hộ phủ cai quản châu Giao châu Quảng châu Quế châu Dung châu Ung gọi chung là Lĩnh Nam ngũ quản.

Sau đó nhà Đường đổi Phủ Đô hộ Giao Châu thành Phủ Đô hộ An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam lúc đầu gọi là kinh lược sứ sau đổi thành Tiết độ sứ. Nhà Đường lại chia Giao Châu làm 12 châu; đứng đầu mỗi châu là viên quan thứ sử. 12 châu này lại được chia thành 59 huyện. Tên gọi 12 châu là:

  • Giao
  • Lục
  • Phúc Lộc
  • Phong
  • Thang
  • Trường
  • Chi
  • Võ Nga
  • Võ An
  • Ái
  • Hoan
  • Diễn

Năm 624 Đường Cao Tổ lại đổi các Phủ Đô hộ thành Phủ Đô đốc. Phủ Đô hộ An Nam thành Phủ Đô đốc An Nam. Năm 679 Đường Cao Tông lại đổi về tên cũ.

Năm 757 Đường Túc Tông đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Phủ Đô hộ Trấn Nam. Chín năm sau (766) lại đổi về tên cũ.

Năm 863 nhà Đường bãi bỏ Phủ Đô hộ An Nam và lập Hành Giao Châu thay thế đóng tại nơi là Quảng Tây ngày nay. Nhưng chưa đầy 1 tháng thì cho tái lập Phủ Đô hộ An Nam nằm trong Hành Giao Châu.

Năm 866 nhà Đường đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Tĩnh Hải Quân.

Dân số

Theo số liệu thống kê của nhà Đường ở quận Giao Chỉ có 9 huyện 30.056 hộ; quận Cửu Chân có 7 huyện 16.135 hộ; quận Nhật Nam có 8 huyện 9915 hộ quận Ninh Việt ở phía đông bắc gồm Khâm châu không rõ số hộ; 3 quận mới chiếm của Lâm Ấp có 4.135 hộ[1].

3.Sự cai trị của Trung Quốc

Thời Tùy

Về danh nghĩa Giao Châu cũng như các quận khác của nhà Tùy trực tiếp phụ thuộc chính quyền trung ương. Nhưng trên thực tế như lời thú nhận của vua Tùy Văn Đế châu Giao chỉ là đất "ràng buộc lỏng lẻo"[1].

Cuối thời nhà Tùy do loạn lạc các quan cai trị ở Giao châu cũng cát cứ cách ly với chính quyền trung ương. Khi Tùy Dạng Đế chết thái thú Khâu Hòa không biết. Khâu Hòa bóc lột nhân dân địa phương rất nặng nhà cửa giàu có ngang với vương giả[1].

Thái thú Cửu Chân là Lê Ngọc (vợ là người Việt) cùng các con xây thành lũy kháng cự nhà Đường mới thay nhà Tùy. Sau Khâu Hòa tới năm 622 Lê Ngọc cùng thái thú Nhật Nam là Lý Giáo cũng quy phục nhà Đường.

Thời Đường

Nhà Đường coi An Nam là một trọng trấn và tăng cường bóc lột rất nặng dưới nhiều hình thức. Hằng năm các châu quận ở đây phải cống nạp nhiều sản vật quý (ngà voi đồi mồi lông trả da cá trầm hương vàng bạc...) và sản phẩm thủ công nghiệp (lụa sa the đồ mây bạch lạp...).

Ngoài chế độ cống nạp người bản địa phải nộp nhiều loại thuế mới. Có nhiều loại thuế và chính sử nhà Đường phải thừa nhận rằng các quan lại ở An Nam đã đánh thuế rất nặng[2]. Riêng thuế muối ở Lĩnh Nam hàng năm bằng 40 vạn quan tiền. Ngoài thuế muối và gạo còn phải nộp thuế đay gai bông và nhiều thuế "ngoại suất" (thuế đánh 2 lần). Nhà Đường dựa vào tài sản chia làm 3 loại thuế:

  1. Thượng hộ nộp 1 thạch 2 đấu
  2. Thứ hộ nộp 8 đấu
  3. Hạ hộ nộp 6 đấu

Các hộ vùng thiểu số nộp 1/2 số quy định trên. Song có những quan lại nhà Đường vẫn bắt người thiểu số nộp toàn bộ số thuế như các hộ ở đồng bằng. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự phản kháng của người Việt mà cụ chống thuế điển hình là Lý Tự TiênĐinh Kiến chống lại Lưu Diên Hựu năm 687.

Sử nhà Đường ghi nhận không ít các quan lại đô hộ vơ vét của người Việt để làm giàu và chạy chức thăng tiến. Cao Chính Bình "phú liễm nặng" Lý Trác "tham lam ăn hối lộ phú thuế bạo ngược" bắt người dân miền núi phải đổi 1 con trâu chỉ để lấy được 1 đấu muối; Lý Tượng Cổ "tham túng bất kể luật pháp"...[2].

Để củng cố sự cai trị nhà Đường tăng cường xây cất thành trì và quân phòng thủ ở Tống Bình châu Hoan châu Ái. Trong phủ thành đô hộ Tống Bình thường xuyên có 4.200 quân đồn trú. Ở vùng biên giới phía tây bắc như miền Lâm Tây Lân Đăng hằng năm có 6.000 quân trấn giữ gọi là quân "phòng đông" (phòng giữ vào mùa khô) để chống sự xâm lấn của nước Nam Chiếu. Thời gian đầu nhà Đường chỉ dùng quân trưng tập từ phương bắc sang làm quân "phòng đông" nhưng từ thời Đường Trung Tông[3] buộc phải dùng cả quân bản địa người Việt xen lẫn.

Những cuộc tấn công của thế lực bên ngoài

 

Sailendra và các cuộc tấn công đường biển vào An Nam - Champa

Ngoài các loại thuế từ cuối thế kỷ 8 người Việt còn bị thiên tai (hạn lụt) trong nhiều năm và những cuộc xâm lấn cướp phá của các nước lân bang như Nam Chiếu Lâm Ấp Chà Và (vương quốc Sailendra hình thành trên đảo Java)... Quân tướng nhà Đường nhiều lần bất lực không chống lại được những cuộc tấn công đó khiến người bản địa bị sát hại đến hàng chục vạn.

Các thế lực Java

Một bia ký ở tháp Po Nagar ghi lại sự kiện Champa bị một thế lực từ Java tấn công bằng đường biển.

Giao Châu khi đó nằm dưới sự đô hộ của nhà Đường cũng bị thế lực này tấn công. Sách sử cũ gọi thế lực này là giặc biển Chà Và Côn Lôn; dựa vào đó mà đời sau suy ra là Java. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi phải cầu cứu Đô úy Vũ Định là Cao Chính Bình. Tại địa điểm Chu Diên (ngày nay gần Hà Nội) quân Đường đã đánh bại quân Java dẫn tới họ phải rút lui theo đường biển. Sau đó Trương Bá Nghi đắp lại thành Đại La[4].

Thế lực từ Java này có thể là Srivijaya. Vào cuối thế kỷ 8 Srivijaya vốn đặt trung tâm ở Đông Nam Sumatra đã dời đô đến Trung Java dựa vào quan hệ đồng minh-hôn nhân-thương mại chặt chẽ với Sailendra. Sự nổi lên của Champa với tư cách là một quốc gia thương mại hàng hải đã làm tổn thương Srivijaya và dẫn đến sự tấn công của của Srivijaya vào Champa và cả Giao Châu.

 Nam Chiếu

Năm 737 Nam Chiếu - một quốc gia của người Bạch và người Di ở vùng Vân Nam ngày này - thành lập. Đến khoảng thời Đường Huyền Tông Nam Chiếu mạnh lên chống lại nhà Đường tấn công Thổ Phồn Tây Tạng và Giao Châu.

Năm 832 Nam Chiếu tiến đánh chiếm được châu kimi Kim Long ít lâu bị quân Đường đánh bại phải rút lui. Năm 846 quân Nam Chiếu lại vào đánh bị tướng Bùi Nguyên Dụ đánh đuổi.

Miền Lâm Tây thuộc An Nam đô hộ phủ nhà Đường đặt quân "phòng đông" để chống Nam Chiếu có 7000 người quanh 7 động thuộc vùng do tù trưởng địa phương là Lý Đo Độc quản lý để tương trợ nhau. Tướng nhà Đường ở Tống Bình là Lý Trác bớt quân phòng đông giao hết việc phòng Nam Chiếu cho Lý Đo Độc. Đo Độc cô thế không quản lý được. Tiết độ sứ của Nam Chiếu ở Giả Đông (Côn Minh Vân Nam) tìm cách mua chuộc và gả cháu gái cho Lý Đo Độc. Từ đó Đo Độc thần phục Nam Chiếu.

Năm 859 cả Đường Tuyên Tông và vua Nam Chiếu là Phong Hựu cùng chết quan hệ Đường - Nam Chiếu vốn tạm hòa hoãn đã đổ vỡ. Năm 860 vua Nam Chiếu mới là Đoàn Thế Long sai Đoàn Tù Thiên mang 3 vạn quân tiến vào cướp phá An Nam. Năm 862 Vương Khoan sang thay Lý Hộ làm Kinh lược sứ quân Nam Chiếu lại vào đánh. Vương Khoan không chống nổi. Nhà Đường phải cử Sái Tập sang thay. Sái Tập huy động 3 vạn quân đẩy lui được Nam Chiếu.

Năm 863 Đoàn Tù Thiên lại tiến vào An Nam đánh bại quân Đường. Sái Tập bị giết. Quân Nam Chiếu chiếm đóng và cướp phá giết hại tới 15 vạn người Việt[5]. Sau đó vua Nam Chiếu sai Đoàn Tù Thiên ở lại Giao Châu làm tiết độ sứ. Nhà Đường phải di chuyển Phủ Đô hộ An Nam đến Hải Môn.

Năm 864 nhà Đường sai Cao Biền làm An Nam đô hộ kinh lược chiêu thảo sứ sang đánh Nam Chiếu. Năm 865 Cao Biền tiến đến Nam Định nhân lúc quân Nam Chiếu đang gặt lúa bất ngờ đánh úp phá tan quân Nam Chiếu. Tới năm 867 Cao Biền đánh bại hoàn toàn người Nam Chiếu tại An Nam chiếm lại thành Tống Bình giết chết Đoàn Tù Thiên chém hơn 3 vạn quân Nam Chiếu[5]. Từ đó sự xâm lấn của Nam Chiếu mới chấm dứt.

Hoàn Vương

Hoàn Vương vốn là tên mới của nước Lâm Ấp trước đây (đổi từ đầu thời Đường). Sau nhiều năm thần phục nhà Đường từ năm 803 Hoàn Vương thấy nhà Đường suy yếu bèn mang quân ra bắc. Quân Hoàn Vương vây hãm hai châu Hoan Ái tàn phá vùng này. Quan sát sứ nhà Đường là Bùi Thái không chống nổi bị thua nặng. Vua Hoàn Vương chiếm được Hoan châu và Ái châu đặt chức Thống sứ cai quản[4].

Năm 808 Trương Chu được điều sang làm Kinh lược sứ. Sau khi củng cố lực lượng và thành Tống Bình năm 809 Trương Chu tiến vào nam đánh quân Hoàn Vương. Quân Đường thắng lớn giết chết 2 Thống sứ của Hoàn Vương giết 3 vạn quân địch chiếm lại 2 châu Ái Hoan. Có 59 vương tử Hoàn Vương bị bắt làm tù binh. Từ đó Hoàn Vương phải từ bỏ việc đánh An Nam.

  

More...

TÌM HIỂU VỀ THIÊN CAN ĐỊA CHI LỤC THẬP HOA GIÁP

By Làng Đại Phong

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

1. Âm dương là 2 mặt đối lập mâu thuẫn thống nhất chuyễn hóa lẫn nhau dựa vào nhau mà tồn tại triệt tiêu thay thế nhau. Trong dương có mầm mống của âm trong âm có mầm mống của dương. Âm dương có cả trong thế giới hữu hình và vô hình.

2. Ngũ hành

Có 5 hành; Hỏa (lửa); Thổ (đất); Kim (kim loại); Thủy (nước); Mộc (cây cỏ)

2.1. Ngũ hành sinh:

- Thủy sinh mộc-     Màu xanh

- Mộc sinh hỏa  -     Màu đỏ

- Hỏa sinh thổ   -     Màu vàng

- Thổ sinh kim  -     Màu trắng

- Kim sinh thủy -     Màu đen

2.2. Ngũ hành khắc:

- Mộc khắc thổ  -     Tụ thắng tán

- Thổ khắc thủy -     Thực thắng hư

- Thủy khắc hoả -    Chúng thắng quả. Nhiều thắng ít

- Hỏa khắc kim  -    Tinh thắng kiên

- Kim khắc mộc -    Cương thắng nhu.

 

CAN CHI VỚI NGŨ HÀNH TỨ PHƯƠNG

1. Can với ngũ hành tứ phương: Kết hợp từng cặp. Thể hiện Thiên khí

- Giáp          Dương mộc              Phương Đông

- Ất              Âm mộc                            -

- Bính          Dương hỏa               Phương  Nam

- Đinh          Âm hỏa                            -

- Mậu           Dương thổ              Trung ương

- Kỷ              Âm thổ                            -

- Canh         Dương kim              Phương Tây

- Tân           Âm kim                             -

 

- Nhâm        Dương thủy             Phương Bắc

- Quý           Âm thủy                           -

 

2. Chi với ngũ hành tứ phương.

- Hợi            Âm thủy                  Phương Bắc

- Tý              Dương thủy                     -

- Dần            Dương mộc            Phương Đông

- Mão           Âm mộc                           -

- Tỵ              Âm hỏa                  Phương Nam

- Ngọ            Dương hỏa                      -

- Thân           Dương kim           Phương Tây

- Dậu            Âm kim                            -

- Sửu            Âm thổ                  Bốn phương

- Thìn           Dương thổ                        -

- Mùi            Âm thổ                             -

- Tuất           Dương thổ                        -

 

3.Biểu đồ xung khắc hại hóa hàng chi

Để cho dễ nhớ chúng ta lấy bàn tay làm “sách”. Chỉ lấy 4 ngón (út nhẫn giữa trỏ). Tương ứng với các vị trí đốt ngón tay là quy ước sau:

 

Tị

Ngọ

Mùi

 

Thân

 

Thìn

 

 

Dậu

 

Mão

 

Tuất

 

Dần

 

Sửu

 

 

Hợi

(ng. trỏ) (ng. giữa)(ng.nhẫn) (ng. út)    

 

Chỗ đeo nhẫn là Tý theo chiều kim đồng hồ mà lần lượt: Sữu Ngọ Mùi… (Chỗ quy ước là các chỉ ngăn cách đốt)

 

Thiên can địa chi là gì?

1. Mười thiên can: Theo thứ tự từ 1 đến 10 là:

Giáp(1) ất (2) bính (3) đinh(4) mậu (5) kỷ (6) canh(7) tân (8) nhâm (9) quí (10).
- Số lẻ là dương can (giáp bính mậu canh nhâm)
- Số chẵn là âm (ất đinh kỷ tân quí)
- Ngày lẻ (dương can) là ngày cương (đối ngoại)
- Ngày chẵn (âm can) là ngày cương (đối nội)
- Những cặp đối xung: Giáp và kỷ ất và canh bính và tân đinh và nhâm mậu và quí.

2. Mười hai địa chi:

Theo thứ tự từ 1 đến 12 là : Tý (1) sửu (2) dần (3) mão (4) thìn (5) tỵ (6) ngọ (7) mùi (8) thân (9) dậu (10) tuất (11) hợi (12).
- Số lẻ là dương chi chỉ kết hợp với âm can.
- Ví dụ: Giáp tý canh ngọ....
- Số chẵn là âm chi chỉ kết hợp với âm can

Ví dụ: Tân sửu quí mùi...

- Những cặp đối xung: Tý và ngọ sửu và mùi dần và thân mão và dậu thìn và tuất tị và hợi (nghĩa là hơn kém nhau 6).

- Tương hợp: có hai loại nhị hợp và tam hợp.

Nhị hợp: Tý - sửu Mão - tuất Tị - thân Dần- hợi Thìn- dậu Ngọ- mùi
Tam hợp: Thân - tý - thìn Dần - ngọ- tuất Hơi- mão - mùi Tị -dậu - sửu

Như vậy mỗi chi chỉ có một xung (ví dụ tý xung ngọ) ba hợp (ví dụ tý hợp sửu tý hợp với thân và thìn)

Lục thập hoa giáp. Cách tính năm tháng ngày giờ theo can chi

Lục thập hoa giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60

Cách tính năm tháng ngày giờ đều theo hệ số đó gọi là lịch can chi. có 6 chu kỳ hàng can tức là có 6 giáp mà mỗi chu kỳ hàng can hay mỗi giáp gồm 10 can (đó là: Giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quí) nên gọi là lục thập hoa giáp.

Năm: Hết một vòng 60 năm từ giáp tý đến quí hợi. Từ năm thứ 61 trở lại giáp tý năm thứ 121 181 ... cũng trở lại giáp tý. Đó là một điều trở ngại cho việc nghiên cứu sử nếu không ghi chiều vua nào thì rất khó xác định. Một gia đình có ông và cháu cùng một tuổi có khi tính tuổi cháu nhiều hơn tuổi ông vậy nên khi tình thành dương lịch cần phải chú ý cộng trừ bội số của 60.

Con số cuối cùng của năm dương lịch ứng với các can:
0: canh (ví dụ canh tý 1780)

1: Tân
2: nhâm
3: quí
4: giáp
5; ất (ví dụ ất dậu 1945)
6: bính
7: đinh
8: mậu
9: Kỷ

Tháng: Tháng giêng âm lịch luôn luôn là tháng dần tháng hai là mão cứ tuân theo thứ tự đó đến tháng 11 là tý tháng chạp là Sửu (12 tháng ứng với 12 chi).
Tháng giêng của năm có hàng can giáp hoặc kỷ (ví dụ năm giáp tý kỷ hợi) là tháng bính dần.
Tháng giêng của năm có hàng can bính tân là tháng canh dần
Tháng giêng của năm có hàng can đinh nhâm là tháng nhâm dần.
Tháng giêng của năm có hàng can mậu quí là tháng giáp dần
Trường hợp năm có tháng nhuận thì cứ theo tháng chính (không đổi).

Ngày: ngày âm lịch và ngày can chi chênh lệch nhau rất khó xác định. vị âm lịch trong 19 năm có 7 tháng nhuận lại có tháng đủ 30 ngày tháng thiếu 29 ngày theo trình tự không nhất định nên tính ngày can chi theo dương lịch dễ hơn (xem bảng cách đổi ngày can chi sang ngày dương lịch).

Giờ: một ngày đêm có 24 giờ nhưng theo can chi chỉ có 12 giờ. Giờ tý (chính tý lúc 0 giờ). Giờ ngọ (chính ngọ lúc 12 giờ trưa).
Ban ngày tính giờ dần (tức 4 giờ sáng) đến giờ thân lúc 4 giờ chiều. Ban đêm tính từ giờ dậu đến hết giờ sửu. Nếu theo lịch can thì bắt đầu từ 23 giờ 30 phút đã sang giờ tý của ngày hôm sau.

Kết hợp Lục thập hoa giáp với Âm Dương ngũ hành để tính tuổi xung khắc với ngày tháng năm can chi định chọn:

Tương xung: Có Lục xung hàng chi:
- Tý xung ngọ
- Sửu xung Mùi
- Dần xung Thân
- Mão xung Dậu
- Thìn xung Tuất
- Tị Xung Hợi

Và tứ xung hàng can:
- Giáp xung canh
- ất xung tân
- bính xung nhâm
- đinh xung quí (mậu kỷ không xung).

Nhưng khi kết hợp lục thập hoa giáp theo hệ số 60 có 5 lần hàng chi (12) gặp 6 hàng can (10) quy vào ngũ hành tính tương sinh tương khắc thì có 1 lần tương hoà 2 lần tương sinh chỉ còn lại 2 lần xung khắc (hàng chi).

Thí dụ: Tính xem ngày (hoặc tháng hoặc năm) giáp tý xung khắc với tuổi nào?
Tính hàng chi: tý xung ngọ vậy giáp tý (xung với giáp ngọ canh ngọ bính ngọ nhâm ngọ và mậu ngọ)
Xem bảng "Kết hợp Lục thập hoa giáp với Ngũ hành" ta thấy:
Giáp tý thuộc kim:
Giáp ngọ thuộc kim vì thế tương hoà.
Canh ngọ thuộc thổ bính ngọ thuộc thuỷ vì thế đều tương sinh chỉ có nhâm ngọ thuộc mộc mậu ngọ thuộc hoả là tương khắc.

Tính hàng can: Giáp xung canh.
Giáp tý thuộc kim:
Canh tuất canh thìn đều thuộc kim vì thế tương hoà
Canh tý canh ngọ đều thuộc thổ đều tương sinh
Chỉ có canh Dần và canh thân thuộc mộc là tương khắc.
Vậy ngày (hoặc tháng năm) giáp tý chỉ có 4 tuổi xung khắc là nhâm ngọ mậu ngọ canh dần canh thân:

Tương hình: Theo hàng chi có :
- tý và mão (một dương một âm điều hoà nhau).
- Tỵ và dần thân (tị âm điều hoà được với dần thân dương chỉ còn dần và thân tương hình nhau nhưng đã tính ở lục xung ).
Theo luật điều hoà âm dương chỉ khắc nhau trong trường hợp cả hai đều âm hoặc cả hai đều dương. Vì vậy chỉ còn lại 2 trường hợp tự hình nhau: Thìn với thìn ngọ với ngọ.

Tương hại: cũng là xấu. có 6 cặp tương hại nhau:
Tý và mùi sửu và ngọ dần và tị mão và thìn thân và hợi dậu và tuất.
Nhưng khi kết hợp với can chi theo luật âm dương tự triệt tiêu.

-Tóm lại: Tính cả xung khắc hình hại trong số 60 can chi chỉ có 2-4 ngày không hợp mệnh thôi hơn nữa còn tuỳ theo mức độ xung khắc mạnh hay yếu (tuỳ theo bản mệnh).

Để tìm năm âm lịch khi biết năm sinh dương lịch hãy lập bảng sau để đối chiếu:

Lấy năm dương lịch trừ đi bội số của 60 còn số dư đối chiếu với bảng thì ra năm âm lịch.

Vd: năm 1996. (60 * 33 = 1980). 1996-1980= 16. Đấy là năm Bính Tý

 

 

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quý    

04

 

16

 

28

 

40

 

52

 

Sửu

 

05

 

17

 

29

 

41

 

53

Dần

54

 

06

 

18

 

30

 

42

 

Mão

 

55

 

07

 

19

 

31

 

43

Thìn

44

 

56

 

08

 

20

 

32

 

Tỵ

 

45

 

57

 

09

 

21

 

33

Ngọ

34

 

46

 

58

 

10

 

22

 

Mùi

 

35

 

47

 

59

 

11

 

23

Thân

24

 

36

 

48

 

00

 

12

 

Dậu

 

25

 

37

 

49

 

01

 

13

Tuất

14

 

26

 

38

 

50

 

02

 

Hợi

 

15

 

27

 

39

 

51

 

03

 

 

 

More...

NHỮNG CÁI CHỢ Ở LỆ THỦY

By Làng Đại Phong

 

NHỮNG CÁI CHỢ Ở LỆ THỦY

 

Về quê lần này gặp phải đợt gió mùa mưa phùn không ngớt. Rủ thằng bạn thời để chỏm lên quán cà phê EDEN ở thị trấn Kiến Giang nhâm nhi. Đang nói chuyện Lệ Thủy có nhiều nhà thơ tự dưng thằng bạn vỗ vai đánh bộp hỏi Lệ thủy có mấy cấy chợ? Chưng hửng mất một lúc rồi cũng nhớ ra được 8 cái nhờ vào bài vè thuộc lòng từ nhỏ:

Trâu chè thơm mít: Chợ Động;

Tôm cua cá bống: Chợ Chè;

Cam quýt đậu mè: Chợ Trạm;

Chim ốc hến rạm: Chợ Thùi;

Bún thịt heo tràn đầy: Chợ Tréo;

Cá biển khắp nẻo: Chợ Tuy;

Thu Ngừ Mực Nuốt chi chi: Chợ Cưởi;

Sắn khoai mật ong thị ổi: Chợ Mỹ Đức.

Ai về Lệ Thủy mặc sức tiêu tiền”

Hắn cười nhăn nhở nói sai toét gấp ba rứa 24 cấy. Tôi tròn mắt nói xạo kể coi. Ngoài 8 cấy ông nói còn Chợ Mai Chợ Phú Hòa Chợ Thạch Bàn Chợ Bùi Chợ Đa Chợ Mốc Định Chợ Quy Hậu Chợ Cam Liên Chợ Sen Chợ Thượng Lâm Chợ Ba Kênh Chợ Cầu Ngò Chợ Xuân Hòa Chợ Thác Tre Chợ Xuân Giang Chợ Nông Trường. Đủ 24 chưa?

Ờ nhỉ bây giờ khác xưa nhiều lắm. Chợ ở khắp nơi tốt quá có chỗ cho bà con mình trao đổi nông sản mua sắm cái mình cần. Chợ bây giờ hiện đại hơn rồi haà hóa cái gì cũng có ti vi HD tủ lạnh máy điều hòa xe máy vàng trang sức… Giao thông thuận lợi người ta chở từ mọi nơi về kể cả hàng nước ngoài. Có người nói muốn biết đời sống nơi nào thì hãy đến chợ. Chợ quê là bức tranh sinh động biểu thị đời sống vật chất tinh thần của nơi đó. Đúng thật.

Bổng nhớ nao nao cái chợ ngày xưa. Chợ quê xưa thường nằm ở gần đình làng. Vòng ngoài vây quanh lấy chợ thể nào cũng có mấy cái quán nhỏ của ông thợ rèn đồ sắt xung quanh lỉnh kỉnh nào lưỡi cày cuốc lưỡi hái liềm răng chỉa. Cạnh là ông hàn nồi đồng bác thợ cạo trung tâm thông tin của làng. Bà hàng nhuộm vải nồi thuốc nhuộm lúc nào cũng nghi ngút. Bác thợ may tay lúc nào cũng lăm lăm cái kéo cái thước gỗ với viên phấn màu hồng. Vài cái quán bún bánh thịt chó trầu cau. Trong chợ thì nông lâm hải sản hàng tươi hàng khô hàng thật hàng mã… cái gì cũng có. Chợ ở Lệ Thủy thường ở gần sông trên bến dưới thuyền. Bến sông lúc nào cũng tấp nập ghe đò. Ghe là của cánh lái buôn chở hàng từ các nơi tận Đồng Hới Cổ Hiền lên từ Hồ Xá ra từ Bang rợn về. Ghe to lắm có cánh buồm nâu. Đứng từ xa đã thấy những cánh buồm nâu nối nhau căng gió. Nhiều hôm gió ngược mà người ta vẫn chạy buồm được. Cứ trở buồm qua bên này rồi bên kia cho thuyền đi dích dắc đâm sang bờ này rồi chéo sang bờ kia. Đò là của bà con trong vùng đi chợ. Cái đò con nhẹ tênh mái chèo lướt lướt áo bà ba bay bay sóng cứ lắp xắp dưới mũi thuyền nghe vui tai. Giữa đò thường có cái sạp nhỏ bằng tre để ngồi và để hàng. Trên đó thể nào cũng có đứa bé được mẹ cho đi chợ cùng. Khi mẹ lên chợ thì trông đò. Khi mẹ xuống đò thì ngóng được mẹ cho quả ổi cái bánh đa con tò he làm bằng bột gạo xanh đỏ con Cu ca vắt bằng đất đầu miệng có cái ống làm bằng sậy giữa chét cái lá tơi thổi lên nó gáy vang. Mê tít.

Vẵng nghe câu hò:

Ai lên Tuy Đợi thì lên

Bún thịt Chợ tréo chớ quên mang về.

More...

NHỮNG CUỘC DI DÂN TRONG LỊCH SỬ BI TRÁNG CỦA LỆ THỦY

By Làng Đại Phong

NHỮNG CUỘC DI DÂN TRONG LỊCH SỬ BI TRÁNG CỦA LỆ THỦY

 

Cư dân là sự sống của một vùng đất. Không có cư dân thì đất đai phì nhiêu đến đâu cũng không có ý nghĩa gì. Cũng như mặt trăng vậy đẹp mà lạnh lẽo. Lịch sử sinh động của một vùng đất được miêu tả sinh động trong lịch sử các tầng văn hóa của con người ở vùng đất đó.

Lệ thủy một vùng đất nhiều tryền thống các tầng văn hóa phản ánh lịch sử con người ở Lệ Thủy rất phong phú. Cư dân ở đây đã có lịch sử hàng nghìn năm. Có nhiều thuyết khác nhau. Không có điều kiện đi sâu vào tất cả các tầng của nó tôi chỉ chọn thời kỳ từ khi người Việt xuất hiện ở đây để nhận diện những dòng chảy mà tự nhiên xã hội đã đưa đẩy chọn lọc con người trên mãnh đất này. Mục đích là tìm xem cái gì đã tạo nên cốt cách con người xứ Lệ.

1.      Những cuộc di dân khai thiết.

Người Lệ Thủy có lịch sử lâu đời rồi. Song người Việt di cư vào đây thì mới. Tính từ thời có sử sách ghi chép lại thì chỉ mới dưới 1000 năm (từ thời nhà Lý chiếm cứ Bố Chính Địa Lý Ma linh vào năn 1069). Khi đó cư dân bản địa là chủ yếu. Nhà Lý chỉ mới cắt cử một số quan lại vào cai quản. Nhưng chủ yếu cũng chỉ ở châu huyện do không thông thạo ngôn ngữ bản địa.

Năm Thái Ninh thứ 4  (1075) mới bắt đầu có cuộc di dân có quy mô đầu tiên từ phía Bắc vào Lệ thủy. Năm đó do người Chăm nhều lần đưa quân ra quấy phá biên giới Đại Việt chiếm lại 3 châu đã hiến vua Lý đã sai Lý Thường Kiệt đem quân vào chinh phạt thu hồi lại 3 châu. Sau chiến thắng Lý Thường kiệt đã cho vẽ lại hình thể núi sông. Vua Lý Thánh tông đã cho đổi tên châu Địa Lý Thành châu Lâm Bình châu Ma Linh thành châu Minh Linh và xuống chiếu chiêu mộ dân đến ở tổ chưc lại việc cai trị. Chiếu này có thể coi là văn kiện lịch sử đầu tiên về các cuộc di dân đến Lệ Thủy.

Việt sử xứ đàng trong viết tiếp “Đáp ứng chiếu ấy nhiều người từ Bắc đa số là từ miền Nghệ An ở gần đấy bắt đầu đến đất này khai khẩn. Trong số người di dân ấy những người cùng một họ tộc thường tụ tập một nơi rồi lập thành một làng (xã). Người ta thấy có những làng mà tiếng nôm gọi là “nhà Phan” và tên chữ là xã Phan Xá nôm gọi “nhà Vàng” và tên chữ là xã Hoàng Xá nôm gọi “nhà Ngô” và tên xã gọi là xã Ngô Xá… Các làng ấy được thành lập ở châu Lâm Bình châu Minh Linh tức là miền nam tỉnh Quảng Bình và miền bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay. Còn ở châu Bố Chính thì không có những làng lấy tên họ mà đặt như thế.” Giải thích điều này có sách nói rằng Bố Chính vốn là đất Đại Việt. Nói vậy là không xác đáng bỡi sử đều chép Bố Chính là đất do Chế Củ cắt dâng. Theo học giã vốn là một nhà truyền đạo người Pháp đã từng truyền đạo trên đất này R.P Cadiere sở dĩ người di dân bỏ qua Bố Chính là vì “Lâm Bình là nơi đất thấp và phì nhiêu hơn”. Hơn thế có lẽ đã là di cư thì cồng kềnh có gì mang theo hết trâu bò lơn gà nhà cữa vì vậy phương tiện hữu hiệu là thuyền bè. Thời ấy đường bộ vào Bố Chính phải vượt Hoành Sơn sẻ rất gian nan. Họ đã vào theo cữa sông Nhật Lệ rồi ngược dòng lên Long Đại Bình Giang… Đất Lâm Bình bấy giờ hoang vu thưa thớt dân bản địa vì một số chạy vào nam theo vua Chăm bỏ lại thành Ninh Viễn. Một số bị đẩy lên miền đồi núi (thành các dân tộc thiểu số). Có thể nói lớp cư dân đầu tiên của Lệ Thủy có quê hương bản quán ở xứ Nghệ. Điều này có thể dễ nhận ra qua tiếng nói tập quán văn hóa lối sống… có nhiều điểm tương đồng với xứ Nghệ. Bố Chính mãi đến thời Lê Thánh Tông mới mộ dân đến khai khẩn.

Thời Trần công cuộc mở đất mang tính ôn hoà hơn. Năm 1301 Trần Nhân Tông hứa gả con gái Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Chế Mân dâng hai châu Ô Lý làm sính lễ. Năm 1307 Trần Anh Tông thu nhận đất ấy và đổi tên là Thuận Châu Hóa Châu (Thừa Thiên Huế). Cũng vì cách thức này nên việc di dân cũng không rầm rộ ồn ào. Những năm này nhiều quan lại quý tộc Chiêm Thành vì bất mãn đã bỏ Chiêm hàng Trần được nhà Trần cho đổi họ thành họ Đinh phong chức và giao cho trấn thủ vùng phên dậu phương Nam. Những năm này ông Hoàng Hối Khanh (người làng Gia Miêu Thanh Hóa) thi đỗ tiến sỹ (1384) được bổ làm tri huyện Nha Nghi (Lệ Thủy) đã về quê chiêu mộ dân vào Nha Nghi Tri Kiến làm ăn. Ông đã dùng ruộng thực điền của mình cấp cho dân cày cấy hình thành nên làng Tiểu Phúc Lộc (Thượng Phong). Sau này được dân Thượng Phong thờ làm Thành hoàng làng.

Thời Hồ Hồ Hán Thương sau khi tiếm ngôi nhà Trần đã cho huy động sức người sức của mở đường Thiên Lý Cù từ Tây Đô (Thanh Hóa) đến Châu Hóa. Sau đó phát binh đánh chiếm Chiêm Động Cổ Lũy của Chiêm Thành (Quảng Nam Quảng Ngãi). Bên cạnh đường bộ nhà Hồ cho đào kênh nối liền các con sông miền trung lại để làm đường vận chuyển hàng nặng. Ở Lệ Thủy có công trình kênh Sen (nối sông Kiến Giang vào Bến Hải).  Sau khi bỏ đất Chiêm Động Cổ lũy Vua Chiêm cho thu lấy những dân trong vùng đem về nước. Nhà Hồ đã phát chiếu mộ dân vào khai phá. Lần này quy mô và quyết liệt hơn. Hồ Hán Thương ban bố chính sách khuyến khích ai có trâu bò tiền thóc mang tiến thì tùy theo ít nhiều mà cho một chức quan. Lại lấy tiền của trâu bò đó cấp cho dân nghèo đi khai hoang. Những người đi khai hoang phải thích vào cánh tay hai chữ tên châu mình. Cùng với dòng người di vào khai phá Chiêm Động Cỗ Lủy nhiều người đã di cư vào Lâm Bình bổ sung cho dân cư ở đây đông đúc thêm.

Thời Lê nhiều lần vua Chiêm ra cướp phá ở Hóa Châu. Năm 1471 Lê Thánh Tông thân chinh triệt hạ kinh đô Trà Bàn của Chiêm Thành bắt vua Chiêm lấy đất đến tận Thạch Bi Sơn (Tuy Hòa). Vua cho mộ dân vào vùng đất mới khai phá lập nghiệp. Thời kỳ này tham nghị thừa chính Hóa Châu là Đặng Chiêm mới dâng sớ xin cho chiêu tập dân xiêu dạt đến khai khẩn Bố Chính. Dưới Thời Lê những dòng họ gia đình miền Thanh Nghệ vốn giỏi nghề ghe thuyền đã vượt biển vào lập ấp khắp vùng sông nước chằng chịt của Khương Lộc Lệ Thủy. Cứ đủ 12 dòng họ là lập một làng. Bên cạnh dòng người di cư tự nhiên ở Tân Bình cón có hạng dân “Lưu”. Lưu ở đây là lưu đày đối với những người có tội với triều đình. Tùy theo nặng nhẹ mà định hình phạt làm 3 hạng. Lưu cận châu lưu ngoại châu và lưu viễn châu. Cận châu thì đi Nghệ An Hà Hoa (Hà tĩnh). Ngoại châu thì đi Bố Chính. Tân Bình là đất dành cho lưu viễn châu. Họ là những người bắt buộc phải đi các xứ. Đến đời Hồng Đức theo sách “Thiên Nam dư hạ tập” thì phủ Tân Bình có 2 huyện: Khương Lộc có 4 tổng 80 xã 7 thôn 4 trang; Lệ Thủy có 6 tổng 28 xã 2 trang. Cư dân Lệ Thủy đã đông đúc tấp nập.

Thời Nguyễn cư dân Lệ thủy được bổ sung chủ yếu từ những binh sỹ ở lại sau cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh.

 

2.      Những cuộc di dân bi tráng.

Sau những năm yên bình làm ăn chiến tranh lại nổ ra. Người dân Lệ Thủy lại lăn lóc trong khói súng nhiều cuộc di dân sinh tồn đã diễn ra trên mảnh đất lửa đạn Lệ Thủy.

Khởi đầu đó là cuộc di dân “tiêu thổ kháng chiến” năm 1946. Ngày 19 – 12 – 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Dân Lệ Thủy đào hố chôn của chặt cây đào đường phá cầu cống gồng gánh đưa nhau lên chiến khu. Theo bố trí dân vùng quốc lộ Thanh Cam Hồng… sơ tán ra vùng đồi cát. Dân vùng giữa Liên Xuân Phong An Lộc… sơ tán lên núi. Mỗi vùng chiến khu nhận một số thôn xã. Thượng Phong Đại Phong lên Châu Lê Phú Hòa thuộc chiến khu Lê Khiếu; Tuy Lộc An Xá lên Phú Kỳ thuộc chiến khu Hoa Thám… Khắp các vung phía tây như Thác Tre Ráng Lục Sơn Châu Lê Phú Hòa Phú Kỳ Hoa Thủy… Người la liệt gồng gồng gánh gánh lợn kêu con khóc nồi đòng mâm bát loảng xoảng. Kẻ chạy bộ người đi thuyền ngược xuôi kêu gào tìm nhau. Suốt từ đấy cho đến ngày nghe tin giải phóng Điện Biên 9 năm lăn lóc đói rét chết chóc. Có lúc tưởng chừng không vượt qua nổi. Lúa chín giữa đồng mà không gặt được bỡi giặc càn. Có người thương con mà đổi cái ăn bằng mạng sống. Dịch bệnh lây lan người chết mà không có thuốc chữa trị. Bom đạn giặc càn ở Xuân Lai – Mỹ Lộc thảm sát ở Mỹ Trạch người chết nhà cháy ngút trời.

Ấy vậy mà người dân vẫn gan góc bám đất bám làng chiến đấu cho đến ngày chiến thắng lập nhiều chiến tích vang dội như trận Xuân Bồ. Như anh hùng Lâm Úy đánh đến khi hết đạn thì xáp lá cà nhảy lên quặp chân cắn cổ tay bóp dái thằng quan Pháp cùng lăn xuống sông. Chết rồi vẫn cắn chặt cổ nó cho đến khi cùng nổi lên.

 

Hòa bình lập lại cuộc di dân bi tráng tứ hai diễn ra. Đó là cuộc di dân chia lìa của những người cách mạng ở miền Nam qua vĩ tuyến 17 chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử. Lần đó họ ra đi trong niềm tin tạm biệt chờ ngày thống nhất Bắc - Nam. Vì vậy họ không mang theo vợ con người thân. Xưa gọi là dân “tập kết”. Cư dân Lệ Thủy tuy chưa đủ cái ăn các xã Liên Thủy An Thủy Xuân Thủy Lộc Thủy Phong Thủy đã đón nhận gần 2000 cán bộ bộ đội là con en Trị Thiên – Huế ra tập kết. Nhiều gia đình dẫu còn khó khăn cũng đã dang rộng vòng tay đón các em học sinh về nuôi. Những người khỏe mạnh được bố trí về ở các nông trường các xóm. Chi hội Phụ nữ còn vận động chị em tình nguyện lấy thương binh để chăm sóc. Làng Đại Phong đã nhường thôn Mỹ Phước cho những người tập kết. Ở đó sau này trong phong trào xây dựng HTX đã xuất hiện người chủ nhiệm là dân tập kết Nguyễn Ngọc Ánh được phong anh hùng lao động.

Ngược với dòng chảy đó một số cư dân Lệ Thủy mà chủ yếu là tín đồ Thiên chúa giáo đã di cư vào Nam. Trong 2 năm 1954 1955 đã có hơn 12.000 người Lệ Thủy ra đi. Có thôn cả 42 hộ ra đi. Nhà thờ bị đập phá nhà cửa không mang theo được thì đốt. Đi là cứ đi chứ chưa biết sẻ ra sao vì “Chúa đã vào Nam”. Cả cái làng Đại Phong quê hương của Ngô Đình Diệm lửa cháy người khóc trong những năm tháng di cư.

 

Cuộc di dân thứ ba đó là cuộc di dân bảo tồn nòi giống. Khi đó là chiến tranh chống Mỹ vào giữa năm 1966. Đất Lệ Thủy là nơi làm binh trạm vận chuyển tiếp tế cho chiến trường. Là nơi tập kết quân bổ sung vũ khí để vượt tuyến vào Nam. Là nơi bệnh viện dã chiến để cứu chữa điều dưỡng cho lính Trường Sơn. Là chỗ hẹp nhất của miền trung trên tuyến vận chuyển chiến trường được gọi là cái “cán song”. Vì vậy mỗi ngày nó phải hứng chịu hàng ngàn cuộc ném bom từ máy bay. Ngoài biển hạm đội 7 của Mỹ bắn pháo hạng nặng vào. Lúc đầu người dân Lệ Thủy chọn cái cách sinh tồn là chia con ra cho ngủ lẫn nhà này với nhà khác để nếu có trúng bom thì không chết cả nhà! Trước tình thế chiến tranh ngày một ác liệt Lệ Thủy đã quyết định đưa con em mình đi sơ tán. Lứa đầu là gần 2.000 học sinh cấp 3 Lệ Thủy được chia làm hai thành trường A và B sơ tán ra xã Ngư Hóa huyện Tuyên Hóa. Ở giữa đèo Mồng Gà giáp giới với Hà Tĩnh. Thầy trò cõng sách quần áo gạo muối lên vai đi bộ xuyên qua các làng mạc gần 100 km đến Ngư Hóa. Tự chặt cây lấy gỗ bứt cỏ gianh đào hầm ngầm làm lớp học. Có những tuần nước suối chảy xiết không chở được gạo. Đói. Lũ lớp 8 bé nhất được ưu tiên mỗi tuần 1 lon sữa bò gạo. Có đứa ăn ổi xanh một lúc sau cồn ruột nằm sấp xuống ói ra mật xanh.

Mùa mưa năm 1966 với mật danh K8 Lệ Thủy thực hiện kế hoạch đưa 500 em nhỏ cùng với 50 thầy cô giáo ra sơ tán tại các tỉnh Thanh Hóa Ninh Bình Nam Hà. Cuộc ra đi như lời thề độc nếu tất cả dân Lệ Thủy có chết đi thì vẫn còn 500 hạt giống đó! Nhìn lũ trẻ chỉ 8 9 tuổi mỗi đứa một ba lô cóc vai đeo ruột tượng gạo cắm đầu theo đứa trước đi trong mưa mà đứt ruột. Máy bay vẫn ầm ì đâu đó pháo sáng vẫn treo trên đầu thỉnh thoảng bom lại nổ. Hôm đó hàng trăm gia đình có con ra đi cứ đứng dưới mưa mặc kệ máy bay cứ nhìn lên Hoa Thủy hướng mà lũ trẻ đi. Chẳng ai bảo ai nhưng chắc tất cả đều cầu mong bom đừng nổ hướng đó. Hàng trăm cây số nữa các con có đến nơi được không!

 

Cuộc di dân tứ tư trong chiến tranh đó là vào tháng 4 năm 1972 mang mật danh K15. Sau chiến dịch giải phóng Quảng Trị biết trước đây sẽ là nơi tranh chấp ác liệt Nhà nước ta đã quyết định di 3.654 đồng bào và hơn 300 chiến sỹ bị thương từ Quảng Trị ra Bắc. Trong bối cảnh chiến tranh dân Lệ Thủy đã thực hiện khẩu hiệu “chia nhà chia cửa chia lửa chia máu” đồng bào dọc tuyến Quốc lộ 1A Sen Cam Thanh Hồng thủy đã đón nhận đồng bào mình che chở qua cơn hoạn nạn. Một năm trong sự đùm bọc che chở của người Lệ Thủy sự sống vẫn sinh sôi. Đã có 188 gia đình sinh con. Những đứa trẻ đó bây giờ đã chẵn 40 tuổi có còn nhớ nơi chôn nhau cắt rốn. Nếu năm 2012 tới họ hẹn nhau về Lệ Thủy thì đẹp biết bao.

 

Chiến tranh thật tàn khốc phải không bạn?

 

 

 

More...

KHÔNG GIAN XANH XỨ LỆ

By Làng Đại Phong

 

KHÔNG GIAN XANH XỨ LỆ

 

Tôi mê mẫn mỗi khi về quê bắt gặp những không gian xanh của xứ Lệ. Những không gian xanh ấy được tạo ra bằng đôi bàn tay khéo léo từ những loại cây rất phổ biến ở quê ta đó là cây “Chè Tàu” và cây “Ngâu”.

Những công trình kiến trúc bằng cây này thường là những bờ tường rào bằng cây chè tàu xanh ngút ngắt. Những cái cổng ở lối vào nhà. Những cột thờ trời trước sân.

alt

alt

alt

alt

alt

Tôi còn nhớ đã có lần nào đó tôi nói với các bạn về tính quy hoạch của kiến trúc làng quê mà cha ông ta đã làm cách đây hàng trăm năm. Cư dân Lệ Thủy từ hàng trăm năm trước đã làm nhà làm lối đi theo một quy hoạch rất khoa học và rất đẹp. Dọc theo sông là đường cái quan nhánh của cái quan là ngõ xóm (quê ta gọi là trôổng). Các con ngõ được làm song song với nhau nối từ cái quan ra đồng. Rất thông thoáng và tiện lợi cho lao động. Nhà ở được làm  quay mặt theo hướng Tây Nam đón gió mùa hè tránh gió mùa đông. Gần như nhất nhất cả huyện như vậy. Bao quanh ngôi nhà là hàng rào bằng cây chè tàu xanh mướt được cắt tỉa công phu như những bức tường xanh. Cây chè tàu rất có giá trị. Một mặt nó làm cho cái nắng hè gay gắt ở quê ta dịu bớt đi. Mặt khác nó ngăn bụi rất hiệu quả. Bụi luồn qua nó bám lại trên mặt lá chờ đến ngày mưa được rửa trôi. Đôi khi ăn xong bước ra bờ rào bẻ cái tăm bằng cành chè tàu bóc vỏ đi dùng nó rất thơm và có vị chát rất tốt cho chân răng. Đặc biệt trước đây nhiều nhà còn trồng cau. Đêm hè cau trổ bông thơm ngát. Dẫu có đi đâu cũng không thể quên được.

Gần đây nhều nhà phá bỏ bờ cây để xây tường gạch. Tiếc quá mỗi ngày những mảnh vườn xanh mỗi ít đi. Bây giờ chỉ còn lại ở những ngôi nhà của người già mà thôi. Hỏi thì người ta nói xây tường để tránh gà hàng xóm bới vườn để chống trộm. Tôi bảo sao không trồng cột thép chăng dây thép gai trước khi trồng chè tàu? Sao không xây thêm một đoạn tường thấp dưới chân hàng rào cây. Có một ngôi nhà ở mặt đường 1A gần cầu Quán Hàu họ xây tường cao khoảng gần nửa mét còn trên đó là bờ tường bằng cây xanh. Hình như họ trồng cây trước cây lên cắt vuông vắn rồi xây chân bờ rào sau. Đẹp lắm vừa khắc phục nhược điểm của cây chè tàu là dưới gốc rất ít cành lá vừa để làm rãnh thoát nước vừa chống được gà bới vừa đỡ tốn tiền (tường loại này không cần móng). Đấy vậy là thiếu đi sự hướng dẫn khuyến khích. Lệ thủy quê mình mà có được nhiều ngôi nhà xanh bên bờ Kiến Giang xanh thì đẹp biết bao.

Để lâu dài cho chiến lược phát triển du lịch ngay bây giờ cần có quy ước về quy hoạch không gian xanh cho các ngôi nhà ở dọc hai bờ Kiến Giang. Những ngôi nhà mặt đường Kiến Giang nên thay tường gạch bằng bờ rào cây chè tàu. Cố gắng không xen thêm nhà ở mới giữ kiểu kiến trúc nhà rường.

More...

ÔNG TRUNG TƯỚNG VỚI KIỂU ĐÁNH KHÔNG NỔ SÚNG

By Làng Đại Phong

Chuyện về ông Trung tướng với kiểu đánh không nổ súng.

alt

 

Đó là ông Lương Hữu Sắt người Đại đội trưởng đầu tiên của quân chủ lực Lệ Thủy. Ông quê ở thôn Mai Xá Hạ xã Xuân Thủy huyện Lệ Thủy. Lý lịch của ông ngắn gọn như sau: Sinh ngày 17/7/1927 bí danh Mạnh Thắng. Tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945. Nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Được kết nạp vào đảng  tháng 5 năm 1946. Từng giữ các chức vụ: Phó chủ nhiệm kiêm bí thư đảng ủy Tổng cục kỷ thuật; Phó tư lệnh Quân chủng không quân; Chủ nhiệm kỷ thuật Quân chủng phòng không không quân; Phó tư lệnh Bộ tư lệnh ra đa Quân chủng phòng không không quân; Quyền phó chủ nhiệm kỹ thuật hậu cần Quân Chủng Phòng không không quân. Được tặng nhiều huân huy chương. Được phong thiếu tướng tháng 4 năm 1984 trung tướng tháng 6 năm 1992.

Những chiến tích của ông trong cuộc đời binh nghiệp thì có nhiều được chép trong lịch sử Quân Đội. Ở đây tôi chỉ xin kể với các bạn về những trận đánh độc đáo mà ông chỉ huy thời chống Pháp trên quê hương Lệ Thủy. Kiểu đánh không nổ súng.

Tháng 11 năm 1947 thực hiện kế sách “Tiểu đoàn tập trung đại đội phân tán” trong đánh địch ở chiến khu Lệ Thủy đã ra mắt Đại đội 1 bộ đội địa phương. Ông Lương Hữu Sắt là đại đội trưởng đầu tiên. Đại đội có 3 trung đội nhưng vũ khí trang bị cho mỗi trung đội chỉ có 5 khẩu súng trường. Chỉ có đánh địch để tước vũ khí của chúng cùng với tự chế vũ khí để đánh. Cái kiểu đánh “đại đội phân tán” là chia nhỏ các trung đội về bám xã giúp du kích chiến đấu làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh vừa đánh vừa bổ sung vũ khí chiến lợi phẩm thu được. Cách đánh là bí mật ém quân trong nhà dân trà trộn trong đồng bào đi chợ đi làm đồng… Bất ngờ ập vào đồn vào trụ sở chính quyền địch áp sát đội tuần tra. Ôm cổ vật chúng xuống khống chế thu súng đạn cảnh cáo bọn tay sai rồi rút êm. Xin kể ra đây vài trận theo ký ức của những chiến binh đại đội 361.

  1. Đánh đồn An Định

Đồn ở xã Hồng Thủy thường xuyên có hơn 30 hương vệ được trang bị vũ khí đầy đủ có chánh tổng Đông khét tiếng độc ác. Dưới sự chỉ huy của ông Sắt cán bộ chiến sỹ 361 đã bí mật luồn về ém quân ngay trong nhà dân là những cơ sở cách mạng. Nơi ẩn nấp là trên tra lúa. Khoảng 5 giờ chiều chị Sáo một cơ sở tin cậy nhận nhiệm vụ đi thám thín về cho biết địch đang tập trung ở nhà thờ công giáo có cả tổng Đông. Lúc này trời mưa dầm bà con nông dân đi làm đồng về. Các chiến binh 361 đã mang tơi đội nón dấu súng trà trộn trong dân áp sát nhà thờ. Đến nơi mỗi người một cữa xông vào chĩa súng ra bắt tất cả ngồi im tước súng. Tất cả 29 tên hương vệ với 11 khẩu súng ngơ ngác như gặp phải lính nhà trời. Ông Sắt còn thuyết giáo một thôi một hồi về đường lối kháng chiến chính sách của cách mạng đã rồi mới cho về gia đình. Chẳng cần phải nổ một phát súng mà còn thu được 11 khẩu với nhiều đạn dược. Rút êm.

  1. Trận Chợ Chè

Trận đánh này diễn ra vào mùa đông năm 1949. Ông Sắt đã đưa ra ý kiến là đánh một trận để ăn tết cho ngon. Được mọi người ủng hộ ông đã cùng các chiến sỹ nghiên cứu quy luật hoạt động của địch rồi chọn địa điểm Chợ Chè. Chợ Chè nằm cạnh quốc lộ 1A cách đồn Mỹ Trung khoảng 4 km. Hàng ngày đồn Mỹ Trung phái một tiểu đội đi ô tô rải dọc quốc lộ từ đồn lên Chợ Chè thanh sát tình hình. Thường chúng đổ xuống chợ Chè 5 tên. Chúng ta chỉ có 5 chiến sỹ nên phải huy động thêm một tổ du kích xã hỗ trợ. Cách đánh là chia phần mỗi người áp sát một tên địch khi có tiếng súng lệnh từ đội trưởng thì xông vào ôm địch vật xuống tước súng. Người hỗ trợ chỉ ngồi quanh đâu đó nếu thấy bất lợi thì mới ra mặt giúp sức. Bỡi du kích xã cũng hoạt động bí mật. Ông Sắt nhận phần lão Cai Á. Khi quan sát thấy đồng đội đã tiếp cận mục tiêu ông Sắt rút khẩu Rulo giấu trong bụng ra bóp cò súng không nổ. Ông lao đến ôm Cai Á vật xuống. Cả năm tên địch đều bị ông và đồng đội khóa gọn tước súng. Riêng Cai Á nhận thêm một nhát dao găm. Nhiều ngày sau đám lính ở đồn Mỹ Trung không dám thò cổ ra ngoài.

  1. Trận đèo Trung Lực

Qua điều nghiên nhận thấy đồn tây ở Tâm Duyệt xã Thái Thủy hàng tháng phải mò sang quốc lộ 1A nhận viện trợ vũ khí lương thực thực phẩm. Đường đi phải qua Đôộng Ếm đèo Trung Lực ở giữa xã Tân Thủy và Hưng Thủy. Mỗi lần đi phải kéo cả trung đội tây đen tây trắng hương vệ. Giửa đèo nếu nổ súng từ xa thì khi chúng đối phó hoả lực của ta không thể sánh địch. Thương vong có thể xảy ra. Ông Sắt cùng đồng đội chọn cách đánh kiểu “Cận chiến”. Ém quân sát đường chờ địch đến sát nổ sung thị uy súng trường đao kiếm dao găm xông ra. Chỉ có điều la hét xung phong thật to súng thì nổ lên trời kẻo bắn nhầm vào ta. Trong thế xáp lá cà bất ngờ địch chỉ còn đường đầu hàng. Trận đó ông cùng đồng đội thu 15 súng trường 12 súng tiểu liên 2 cacbin và toàn bộ lương thực thực phẩm.

 

Có những trận ác liệt như trận chống càn ở 2 thôn Xuân Lai Mỹ Lộc đại đội 361 đã chống chọi với một tiểu đoàn địch trang bị hiện đại. Chúng chia làm hai gọng kìm từ thượng nguồn xuống từ hạ lưu lên định ngiền nát 361. Nhưng chúng đã thất bại được sự giúp đỡ của nhân dân chiến sỹ 361 đã thoắt ẩn thoắt hiện lúc thì co cụm lại lúc thì phân tán chống chọi với địch từ sáng đến tối tiêu diệt 142 tên làm bị thương nhiều tên. 11 chiến binh dũng cảm của 361 hy sinh. Còn nhiều trận nữa kiểu đánh xuất quỷ nhập thần của ông và đồng đội 361 đã làm địch khiếp sợ.

Ngồi nghe chiến binh 361 kể chuyện mà thán phục sự dũng cảm hy sinh vì quê hương của lớp cha chú. Sắp đến ngày kỷ niệm 65 năm thành lập 361 (11/2012) viết lại vài dòng để các bạn trẻ cùng chia sẻ.

More...